Hiển thị các bài đăng có nhãn Lời Xuất Hiện Trong Xác Thịt. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lời Xuất Hiện Trong Xác Thịt. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 8 tháng 6, 2020

Chỉ bằng cách trải qua sự tinh luyện con người mới có thể sở hữu tình yêu thật sự

Tất cả các ngươi đang ở giữa sự thử thách và tinh luyện. Ngươi nên yêu mến Đức Chúa Trời như thế nào trong quá trình tinh luyện? Trải qua sự tinh luyện rồi, con người có thể dâng lên Đức Chúa Trời lời ca tụng thật sự, và giữa sự tinh luyện, họ có thể thấy mình đang thiếu sót rất nhiều. Càng được tinh luyện thì ngươi càng có thể từ bỏ xác thịt; càng được tinh luyện thì con người càng yêu mến Đức Chúa Trời hơn. Đây chính là điều các ngươi nên thông hiểu. Tại sao con người phải được tinh luyện? Sự tinh luyện nhằm đạt được hiệu quả gì? Tầm quan trọng của việc tinh luyện mà Đức Chúa Trời thực hiện trong con người là gì? Nếu ngươi thực sự tìm kiếm Đức Chúa Trời rồi cảm nghiệm được sự tinh luyện của Ngài đến một mức độ nào đó ngươi sẽ cảm thấy rằng điều đó thật tốt và đó là điều cần thiết tột bậc. Con nguời nên yêu mến Đức Chúa Trời như thế nào trong quá trình tinh luyện? Bằng cách dùng quyết tâm yêu mến Đức Chúa Trời để chấp nhận sự tinh luyện của Ngài: Trong quá trình tinh luyện, ngươi cảm biết đau đớn trong lòng như bị một luỡi dao đâm xoáy vào tim, tuy nhiên ngươi sẵn sàng làm thỏa lòng Đức Chúa Trời bằng tấm lòng mình, tấm lòng yêu mến Đức Chúa Trời và ngươi không hề muốn quan tâm đến xác thịt. Đây là ý nghĩa của việc thực hành tình yêu dành cho Đức Chúa Trời. Ngươi đau bên trong, và nỗi đau đớn của ngươi đã đến một mức nào đó, tuy nhiên ngươi vẫn sẵn lòng đến trước Đức Chúa Trời, và cầu nguyện rằng: “Lạy Đức Chúa Trời! Con không thể rời xa Người. Dẫu rằng có bóng tối trong con thì con vẫn muốn làm đẹp lòng Người; Người biết tấm lòng của con và con ước rằng Người dành cho con nhiều tình yêu thương hơn nữa”. Đây là sự luyện tập trong suốt quá trình tinh luyện. Nếu ngươi dùng lòng yêu mến Đức Chúa Trời làm nền tảng, thì sự tinh luyện có thể đem ngươi đến gần Đức Chúa Trời hơn và làm cho ngươi trở nên mật thiết hơn với Ngài. Vì ngươi tin Đức Chúa Trời, nên ngươi phải dâng lòng mình trước Đức Chúa Trời. Nếu ngươi dâng và trải lòng ngươi trước Đức Chúa Trời, thì trong quá trình tinh luyện, ngươi sẽ không thể từ chối Đức Chúa Trời, hoặc rời xa Ngài. Bằng cách này thì mối quan hệ của ngươi với Đức Chúa Trời sẽ trở nên gần gũi hơn và bình thường hơn bao giờ hết và mối tương giao giữa ngươi với Đức Chúa Trời sẽ trở nên thường xuyên hơn bao giờ hết. Nếu ngươi luôn thực hành theo cách này thì ngươi sẽ dành nhiều thời gian hơn trong sự sáng của Đức Chúa Trời, và nhiều thời gian hơn dưới sự chỉ dẫn của lời Ngài, cũng sẽ ngày càng có nhiều thay đổi trong tâm tính ngươi, và sự hiểu biết của ngươi sẽ gia tăng từng ngày. Khi ngày ấy đến và những thử thách của Đức Chúa Trời thình lình giáng xuống ngươi, ngươi chẳng những có thể đứng bên cạnh Đức Chúa Trời mà còn có thể làm chứng về Ngài. Lúc đó, ngươi cũng sẽ giống như Gióp và Phi-e-rơ. Khi đã làm chứng về Đức Chúa Trời thì ngươi sẽ thực sự yêu mến Ngài và sẽ vui lòng phó thác cuộc sống của mình cho Ngài; ngươi sẽ là chứng nhân của Đức Chúa Trời và là người được Đức Chúa Trời yêu thương. Tình yêu thương đã kinh qua sự tinh luyện thì mạnh mẽ và không hề yếu đuối. Bất kể khi nào hay bằng cách thức nào mà Đức Chúa Trời bắt ngươi phải chịu những thử thách của Ngài, ngươi đều có thể bất kể sống chết, vui mừng gạt bỏ mọi thứ sang một bên vì Đức Chúa Trời và vui lòng gánh chịu bất cứ điều gì vì Ngài - và như thế tình yêu thương của ngươi sẽ trở nên thánh khiết và đức tin của ngươi sẽ trở thành đức tin thật. Chỉ đến lúc đó ngươi mới là người được Đức Chúa Trời thực sự yêu mến và được làm cho toàn vẹn bởi Đức Chúa Trời.

Thứ Ba, 19 tháng 5, 2020

Ngươi có phải người đã hồi sinh không?

Khi ngươi đã có được việc sống bày tỏ ra nhân tính thông thường, và đã được làm cho hoàn thiện, mặc dù ngươi sẽ không thể nói tiên tri, cũng không nói bất kỳ sự mầu nhiệm nào, ngươi sẽ sống bày tỏ ra và biểu lộ hình ảnh của một con người. Đức Chúa Trời đã tạo nên con người mà sau đó con người đã bị Sa-tan làm bại hoại, và sự bại hoại này đã khiến con người trở thành “những xác chết” - và do vậy, sau khi ngươi đã thay đổi, ngươi sẽ khác biệt với những xác chết này. Chính lời Chúa ban sự sống cho linh hồn của con người và làm cho họ được tái sinh, và khi linh hồn của con người được tái sinh, họ sẽ sống dậy. Nói đến “kẻ chết” nghĩa là ám chỉ những cái xác không hồn, là những người mà linh hồn của họ đã chết. Khi linh hồn của con người được ban sự sống, họ sẽ sống dậy. Các thánh đồ được nói đến trước kia ám chỉ những người đã sống dậy, những người đã chịu sự ảnh hưởng của Sa-tan nhưng đã đánh bại Sa-tan. Những người được chọn ở Trung Quốc đã phải chịu sự bắt bớ và sự lừa bịp tàn nhẫn và vô nhân tính của con rồng lớn sắc đỏ, khiến họ bị tổn hại về tinh thần và không có chút dũng khí nào để sống. Do vậy, việc thức tỉnh linh hồn của họ phải bắt đầu với bản chất của họ: Từng chút một, trong bản chất của họ, linh hồn của họ phải được đánh thức. Khi mà, một ngày nào đó, họ sống dậy, sẽ không còn những chướng ngại nữa, và tất cả sẽ tiến triển êm đẹp. Vào lúc này, điều này vẫn chưa thể đạt đến được. Việc sống bày tỏ ra của hầu hết mọi người chứa đựng nhiều không khí chết chóc, họ bị vùi trong mùi của sự chết, và họ thiếu thốn quá nhiều. Lời nói của một số người mang sự chết, hành động của họ mang sự chết, và hầu như mọi thứ mà họ sống bày tỏ ra đều là sự chết. Nếu, ngày nay, con người công khai làm chứng cho Đức Chúa Trời thì công việc này sẽ thất bại, bởi vì họ chưa hoàn toàn sống dậy, và có quá nhiều kẻ chết trong số các ngươi. Ngày nay, một số người hỏi tại sao Đức Chúa Trời không tỏ ra một số dấu kỳ phép lạ để Ngài có thể nhanh chóng loan báo công việc của mình giữa các dân ngoại. Kẻ chết không thể làm chứng cho Đức Chúa Trời; chỉ người sống mới có thể, nhưng hầu hết mọi người ngày nay đều là kẻ chết, quá nhiều người trong số họ sống trong lao tù của sự chết, họ sống dưới sự ảnh hưởng của Sa-tan, và không thể có được sự chiến thắng - và như vậy thì làm sao họ có thể làm chứng cho Đức Chúa Trời? Làm sao họ có thể loan báo công việc của Phúc Âm?

Thứ Hai, 18 tháng 5, 2020

Chỉ có đưa lẽ thật vào thực hành mới là sở hữu hiện thực

Giữ vững lời Chúa và có thể giải thích lời Ngài một cách không lúng túng không có nghĩa là ngươi sở hữu hiện thực; mọi thứ không đơn giản như ngươi tưởng tượng. Việc ngươi có sở hữu hiện thực hay không không căn cứ vào những gì ngươi nói, mà căn cứ vào những gì ngươi sống thể hiện ra. Chỉ khi lời Chúa trở thành sự sống của ngươi và sự thể hiện tự nhiên của ngươi, thì mới có thể nói rằng ngươi sở hữu hiện thực, và chỉ khi đó ngươi mới được tính là đã đạt được hiểu biết thực sự và vóc giạc thực tế. Ngươi phải có khả năng chịu được sự soi xét lâu dài, và ngươi phải có khả năng sống thể hiện ra hình tượng giống như Chúa yêu cầu. Đây không được chỉ đơn thuần là sự thể hiện; nó phải tuôn ra từ ngươi một cách tự nhiên. Chỉ khi đó, ngươi mới thực sự sở hữu hiện thực, và chỉ khi đó ngươi mới có được sự sống. Để Ta lấy ví dụ về thử thách của những người phục vụ mà mọi người đều quen thuộc: Bất kỳ ai cũng có thể đưa ra những lý thuyết cao siêu về những kẻ phục vụ, và mọi người đều có đủ hiểu biết về chủ đề này; họ nói về nó và lời người sau vượt trội hơn người trước, như thể một cuộc thi vậy. Tuy nhiên, nếu con người chưa trải qua một thử thách lớn thì rất khó để nói rằng người đó có thể đưa ra lời chứng tốt. Nói tóm lại, việc sống thể hiện ra của con người còn rất thiếu, hoàn toàn trái ngược với sự hiểu biết của họ. Chính bởi lẽ đó, nó chưa trở thành vóc giạc thực tế của con người, và chưa phải là sự sống của họ. Bởi vì sự hiểu biết của con người chưa được đưa vào thực tế, nên vóc giạc của người đó vẫn chỉ như lâu đài xây trên cát, ngấp nghé bên bờ vực sụp đổ. Con người có quá ít hiện thực; hầu như không thể tìm thấy chút hiện thực nào ở con người. Có quá ít hiện thực tuôn chảy ra một cách tự nhiên từ con người, và tất cả hiện thực mà họ sống thể hiện ra là do gượng ép. Chính vì lẽ đó, Ta nói rằng con người không sở hữu hiện thực. Mặc dù người ta khẳng định tình yêu Đức Chúa Trời của họ không bao giờ thay đổi, đó chỉ là những gì họ nói trước khi đối diện với bất kỳ thử thách nào. Khi họ bất ngờ đối mặt với thử thách một ngày nào đó, những điều mà họ nói sẽ một lần nữa lệch lạc với hiện thực, và điều đó sẽ lại chứng minh rằng con người không sở hữu hiện thực. Có thể nói rằng bất cứ khi nào ngươi đối mặt với những việc không phù hợp với các quan niệm của ngươi và đòi hỏi ngươi gạt bản thân mình sang một bên, thì những việc đó là thử thách của ngươi. Trước khi ý muốn của Chúa được tiết lộ, mọi người phải trải qua một bài kiểm tra khắt khe và một thử thách to lớn. Ngươi có hiểu thấu được điều này không? Khi Đức Chúa Trời muốn thử thách con người, Ngài luôn cho phép họ được lựa chọn, trước khi lẽ thật thực sự được tiết lộ. Điều này có nghĩa là khi Chúa đặt con người trước thử thách, Ngài sẽ không bao giờ nói cho ngươi biết lẽ thật; đó là cách để con người được phơi bày. Đó là một cách mà Chúa thực hiện công việc của Ngài, để thấy ngươi có biết Đức Chúa Trời của ngày hôm nay không, cũng như ngươi có sở hữu hiện thực không. Ngươi có thật sự không còn nghi ngờ gì về công tác của Chúa không? Liệu ngươi có thể thực sự đứng vững khi một thử thách lớn xảy đến với ngươi không? Ai dám nói: “Tôi đảm bảo sẽ không có vấn đề gì”? Ai dám khẳng định: “Người khác có thể có nghi ngờ, chứ tôi thì không bao giờ”? Giống như khi Phi-e-rơ bị thử thách: ông ta luôn khoác lác trước khi lẽ thật được tiết lộ. Đây không phải là thói xấu riêng của Phi-e-rơ; đây là khó khăn lớn nhất mà mọi con người đang phải đối mặt. Nếu Ta đến thăm một vài nơi hoặc thăm một vài anh chị em để xem các ngươi hiểu gì về công tác của Đức Chúa Trời ngày nay, các ngươi chắc chắn có thể nói nhiều về kiến thức của mình, và các ngươi dường như không hề có chút nghi ngờ nào. Nếu ta hỏi ngươi: “Ngươi có thực sự xác định được rằng công tác hôm nay là do chính Chúa thực hiện? Mà không nghi ngờ gì?” Ngươi chắc chắn sẽ trả lời: “Không nghi ngờ gì nữa, đây chính là công tác do Thần của Đức Chúa Trời thực hiện”. Một khi đã trả lời theo cách như vậy, ngươi chắc chắn không cảm thấy mảy may nghi ngờ, và ngươi thậm chí còn cảm thấy khá hài lòng, nghĩ rằng ngươi đã có được một chút hiện thực. Những người có xu hướng hiểu mọi việc theo cách đó là những người sở hữu ít hiện thực hơn; người ta càng nghĩ rằng họ đã có được nó, thì người ta càng ít có khả năng đứng vững khi đối mặt với thử thách. Khốn khổ thay những kẻ kiêu căng và ngạo mạn, và khốn khổ thay những kẻ không hiểu chính mình; những người như vậy chỉ giỏi nói, nhưng lại kém nhất khi biến lời nói thành hành động. Khi có dấu hiệu nhỏ nhất của rắc rối, những người này bắt đầu nghi ngờ, và ý nghĩ bỏ cuộc len lỏi vào tâm trí họ. Họ không sở hữu chút hiện thực nào; họ chỉ có lý thuyết đặt trên tôn giáo, không có một chút hiện thực nào mà Chúa yêu cầu. Ta ghê tởm nhất những kẻ chỉ nói lý thuyết mà không sở hữu hiện thực. Họ ầm ĩ nhất khi thực hiện công việc của mình, nhưng ngay khi đối mặt với hiện thực, họ rã đám. Chẳng phải điều đó cho thấy những người này không sở hữu chút hiện thực nào hay sao? Cho dù sóng gió dữ dội đến đâu, nếu ngươi vẫn có thể đứng vững mà không cho phép một chút mảy may nghi ngờ len lỏi vào tâm trí, và có thể đứng vững và không chối bỏ, và thậm chí ngay cả khi chẳng còn lại ai khác, thì ngươi sẽ được xem là thực sự hiểu và đích xác sở hữu hiện thực. Nếu gió chiều nào, ngươi ngả theo chiều ấy - nếu ngươi chạy theo số đông, và học nói theo lời kẻ khác như vẹt - thì cho dù ngươi hùng hồn đến đâu, cũng không chứng tỏ rằng ngươi sở hữu hiện thực. Chính vì lẽ đó, ta đề nghị ngươi không nên vội gào lên những lời sáo rỗng. Ngươi có biết Đức Chúa Trời sắp làm gì không? Đừng cư xử như một Phi-e-rơ nữa, kẻo đem hổ thẹn cho bản thân và không thể ngẩng cao đầu; điều đó sẽ chẳng tốt cho ai cả. Hầu hết mọi người không có vóc giạc thực sự. Mặc dù Chúa đã thực hiện rất nhiều công việc, Ngài chưa đem hiện thực đến cho mọi người; nói chính xác hơn, Ngài chưa bao giờ đích thân trừng phạt ai. Một số người đã bị phơi bày qua những thử thách như thế, với bàn tay tội lỗi của họ vươn ra ngày càng xa hơn, tưởng rằng có thể dễ dàng thắng được Chúa, rằng họ có thể làm bất kỳ điều gì họ muốn. Bởi họ không thể chịu đựng được ngay cả loại thử thách này, thì những thử thách lớn hơn là điều không thể đối với họ, việc sở hữu hiện thực cũng vậy. Chẳng phải là họ đang cố lừa dối Chúa sao? Sở hữu hiện thực không phải là việc có thể giả bộ, hiện thực cũng không phải là thứ ngươi có thể đạt được bằng cách biết nó. Điều đó phụ thuộc vào vóc giạc thực tế của ngươi, cũng như việc ngươi có chống chịu được mọi thử thách hay không. Ngươi có hiểu không?

Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2020

Thực chất và thân phận con người

Thật sự là, người Y-sơ-ra-ên không bị thất vọng; chúng đã thấy công tác do Đức Chúa Trời thực hiện trong sáu ngàn năm qua, vì Ta đã không bỏ rơi chúng. Đúng hơn là, vì tổ tiên chúng đã ăn trái từ cây biết thiện ác, do ma quỷ trao cho chúng, nên chúng đã ruồng rẫy Ta mà chạy theo tội lỗi. Sự thiện luôn thuộc về Ta, còn sự ác thì thuộc về ma quỷ, kẻ lừa dối Ta vì tội lỗi. Ta không trách con người, cũng không nhẫn tâm tiêu diệt chúng và trừng phạt chúng cách tàn nhẫn, vì sự ác ban đầu không thuộc về nhân loại. Bởi vậy, dù cho dân Y-sơ-ra-ên đã công khai đóng đinh Ta trên thập giá, nhưng mà chúng, những kẻ chờ đợi Đấng Mê-si và Đức Giê-hô-va, và khao khát Đấng Cứu Độ Jêsus, chưa hề quên lời hứa của Ta: Vì Ta đã không ruồng rẫy chúng. Xét cho cùng, Ta đã đổ máu ra làm chứng cho giao ước mà Ta đã thiết lập với nhân loại; sự thật này đã trở thành “huyết ước” ghi khắc trong lòng của những kẻ non nớt và vô tội, như một dấu ấn và đồng phụ thuộc trường cửu như trời và đất. Vì Ta chưa hề gian dối những linh hồn sầu muộn mà Ta đã tiền định, đã chọn lựa và về sau là cứu rỗi và thu phục, cũng là những kẻ đã yêu mến Ta hơn là yêu mến ma quỷ, chúng háo hức dự liệu sự trở lại của Ta và sốt sắng chờ đợi được diện kiến Ta. Vì Ta chưa hề xóa bỏ giao ước mà Ta đã thiết lập với chúng bằng máu, nên chẳng lạ gì khi chúng tha thiết chờ đợi. Ta sẽ đưa về lại những con chiên đã lạc mất suốt nhiều năm, vì Ta đã luôn yêu thương con người, đơn giản là các ác tính đã bị thêm vào sự thiện trong chúng. Ta sẽ thu phục những linh hồn tội nghiệp yêu mến Ta và những kẻ Ta đã yêu mến quá lâu rồi, nhưng làm sao Ta có thể đưa vào nhà Ta những kẻ ác chẳng hề yêu mến Ta và hành xử như kẻ địch thù? Ta sẽ không đưa vào vương quốc của Ta những hậu duệ của ma quỷ và con rắn vốn thù ghét, đối chọi, chống đối, công kích và nguyền rủa Ta, bất chấp giao ước Ta đã thiết lập bằng máu với nhân loại. Ngươi phải biết chính xác mục đích công tác của Ta là gì, và Ta thực hiện nó vì ai. Tình yêu của ngươi chứa đựng sự thiện hay sự ác? Hiểu biết của ngươi về Ta có giống như của Đa-vít và Môi-sê hay là không? Việc phục dịch của ngươi dành cho Ta có giống với việc phục dịch của Áp-ra-ham hay là không? Ngươi thật sự được Ta làm cho hoàn thiện, nhưng ngươi phải biết ngươi sẽ đại diện cho ai, cũng như sẽ chung phần hậu quả với ai. Suốt cuộc đời ngươi, trong cảm nghiệm của ngươi về công tác của Ta, ngươi có thu gặt được thành quả vui sướng và dồi dào không? Có sinh hoa trái và dồi dào không? Ngươi phải suy ngẫm về bản thân mình: Suốt nhiều năm ngươi đã nhọc công vì Ta, nhưng ngươi có từng đạt được gì không? Ngươi có từng được biến đổi hay đạt được gì không? Đổi lại những trải nghiệm gian khổ của ngươi, ngươi đã trở nên như Phi-e-rơ chịu đóng đinh, hay như Phao-lô bị đánh gục và đón nhận ánh sáng lớn lao chưa? Ngươi phải có được chút ý thức về những điều này. Ta không liên tục nói về hay chăm chú vào đời sống ngươi, vốn là thứ nhỏ hơn cả hạt cải và bé như hạt cát. Nói thẳng ra, Ta quản lý nhân loại. Tuy nhiên, Ta không xem đời sống con người, những kẻ mà Ta từng ghét bỏ nhưng về sau đã thu nhận lại, là một phần quan trọng của việc quản lý của Ta. Ngươi phải có khái niệm rõ ràng về bản chất thực sự của thân phận cũ của các ngươi, cũng như biết các ngươi là nô dịch của ai. Do đó, Ta không dùng diện mạo của con người, vốn đồng nhất với diện mạo của Sa-tan, làm nguyên liệu thô để quản lý con người, vì con người chưa hề là những đối tượng đáng giá. Các ngươi phải nhớ lại thái độ của Ta đối với các ngươi lúc ban đầu, và nhớ cách Ta gọi các ngươi lúc đó - một cái tên chẳng có ý nghĩa thực tế nào. Ngươi phải biết những danh hiệu của các ngươi chẳng có nguyên do gì đâu. Ta cho rằng tất cả các ngươi đều biết rằng các ngươi không thuộc về Đức Chúa Trời, nhưng đã bị Sa-tan chiếm lấy từ sớm và phục dịch trong nhà nó như tôi tớ trung thành; hơn nữa, các ngươi đã quên Ta lâu rồi, vì từ lâu các ngươi đã ở ngoài nhà Ta và ở trong tay ma quỷ. Những kẻ Ta đã cứu là những con người Ta đã tiền định từ lâu và đã được Ta cứu chuộc, còn các ngươi là những linh hồn khốn khổ được đặt vào giữa nhân loại như những kẻ ngoại lệ. Các ngươi phải biết rằng các ngươi không thuộc về nhà Đa-vít hay Gia-cóp, nhưng là nhà của Mô-áp, những kẻ thuộc một bộ tộc dân ngoại. Vì Ta đã không lập giao ước với các ngươi, nhưng chỉ làm việc, phán truyền giữa các ngươi và dẫn dắt các ngươi. Máu của Ta không đổ ra vì các ngươi; Ta chỉ đơn thuần thực hiện công tác của Ta giữa các ngươi vì lời chứng của Ta mà thôi. Các ngươi không biết thế ư? Công tác của Ta thật sự giống với cách Jêsus đổ máu đến chết thay cho các ngươi sao? Ngay từ đầu, đã không đáng để Ta chịu đựng sự sỉ nhục ghê gớm như thế vì các ngươi. Đức Chúa Trời, Đấng tuyệt đối không có tội, đã thẳng đến một chốn cực kỳ đáng ghét và ghê tởm, một thế giới chó lợn không phù hợp cho con người cư ngụ, thế mà Ta vẫn chịu đựng hết những sự sỉ nhục tàn bạo này vì vinh quang của Cha Ta và vì lời chứng bất diệt. Các ngươi phải biết việc các ngươi làm là gì, và thấy rằng các ngươi không phải là những đứa con sinh ra trong “danh gia vọng tộc”, nhưng chỉ là dòng dõi bần hàn của Sa-tan. Các ngươi cũng không phải là các tổ phụ của nhân loại, cũng chẳng có quyền hay sự tự do của con người. Các ngươi ban đầu chẳng có phần gì trong phúc lành của nhân loại hay của nước thiên đàng. Đấy là bởi các ngươi nằm ở tầng đáy thấp nhất của nhân loại, và Ta chưa hề nghĩ gì đến tương lai của các ngươi. Bởi vậy, dù một phần kế hoạch của Ta là ngày nay Ta có sự tin tưởng để hoàn thiện các ngươi, nhưng đây là một việc chưa từng có, vì tư cách của các ngươi quá thấp hèn và ban đầu các ngươi chẳng có phần gì trong nhân loại. Đây không phải đúng là một phúc lành cho con người sao?

Thứ Năm, 14 tháng 5, 2020

Thời Đại Vương Quốc Là Thời Đại Của Lời

Trong Thời đại Vương quốc, Đức Chúa Trời sử dụng lời để mở ra một thời đại mới, để thay đổi cách làm việc của Ngài, và để thực hiện công tác trong suốt thời đại. Đây là nguyên tắc mà Đức Chúa Trời đã làm theo trong Thời đại của Lời. Ngài đã trở nên xác thịt để phán dạy từ các khía cạnh khác nhau, giúp loài người thật sự nhìn thấy Đức Chúa Trời, chính là Lời xuất hiện trong xác thịt, và trong sự khôn ngoan và sự mầu nhiệm của Ngài. Công tác này được thực hiện để đạt được tốt hơn mục đích chinh phục loài người, hoàn thiện loài người và loại trừ loài người. Đây là ý nghĩa thực sự của việc sử dụng lời để làm việc trong Thời đại của Lời. Thông qua lời, loài người biết đến công táccủa Đức Chúa Trời, tâm tính của Đức Chúa Trời, bản chất của loài người, và điều mà con người nên bước vào. Thông qua lời, công tác mà Đức Chúa Trời mong muốn thực hiện trong Thời đại của Lời được khai hoa kết trái trọn vẹn. Thông qua lời, loài người được tỏ lộ, bị loại trừ và bị thử thách. Loài người đã nhìn thấy lời, nghe thấy lời, và ý thức được sự tồn tại của lời. Kết quả là, loài người tin vào sự tồn tại của Đức Chúa Trời, vào sự toàn năng và khôn ngoan của Đức Chúa Trời, cũng như vào tình yêu của Đức Chúa Trời đối với loài người và mong ước cứu rỗi loài người của Ngài. Mặc dù từ “lời” thì đơn giản và bình thường, nhưng lời từ miệng của Đức Chúa Trời nhập thể làm chấn động cả vũ trụ; nó làm biến đổi tâm hồn, quan niệm và tâm tính cũ của loài người, và cách cả thế giới đã từng hiện bày. Xuyên suốt các thời đại, chỉ có Đức Chúa Trời của ngày nay làm việc theo cách này, và chỉ có Ngài phán như thế, đến để cứu rỗi loài người như thế. Từ thời điểm này trở đi, loài người sống dưới sự dẫn dắt của lời, được chăn dắt và chu cấp bởi lời. Tất cả nhân loại đã bắt đầu sống trong thế giới của lời, trong sự rủa sả và chúc phước của lời Đức Chúa Trời, và thậm chí còn có nhiều người đã sống dưới sự phán xét và trừng phạt của lời. Những lời này và công tác này tất cả đều vì sự cứu rỗi của loài người, vì việc ứng nghiệm ý muốn của Đức Chúa Trời, và để thay đổi diện mạo ban đầu của thế giới được sáng lập trước đây. Đức Chúa Trời tạo ra thế giới bằng lời, dẫn dắt loài người khắp vũ trụ bằng lời, và lại chinh phục và cứu rỗi họ bằng lời. Cuối cùng, Ngài sẽ dùng lời để kết thúc toàn bộ thế giới cũ. Chỉ khi đó kế hoạch quản lý mới hoàn toàn được hoàn thành. Trong suốt Thời đại Vương quốc, Đức Chúa Trời sử dụng lời để làm công tác của Ngài và đạt được kết quả trong công tác của Ngài; Ngài không muốn thực hiện các kỳ công hay làm các phép lạ; Ngài chỉ thực hiện công tác của Ngài thông qua lời. Nhờ lời, loài người được nuôi dưỡng và chu cấp; nhờ lời, loài người có được tri thức và kinh nghiệm thực sự. Loài người trong Thời Đại của Lời đã thực sự có được những phước lành đặc biệt. Loài người không phải chịu đựng những đau khổ về thể chất và chỉ đơn giản là vui hưởng sự chu cấp dư dật của lời Đức Chúa Trời; không cần phải đi tìm kiếm hoặc thực hiện những hành trình xa xôi, trong lúc thoải mái nhất của mình con người có thể nhìn thấy sự xuất hiện của Đức Chúa Trời, nghe thấy Ngài phán dạy từ chính miệng Ngài, nhận được những gì Ngài chu cấp, và nhìn thấy Ngài đích thân đang làm công tác của mình. Đây là những điều mà loài người ở các thời đại trước đây không thể vui hưởng, và đây là những phước lành mà loài người trước đây không bao giờ có thể nhận được.

Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2020

Chính Đức Chúa Trời, Đấng độc nhất X

Đức Chúa Trời là nguồn sống cho muôn vật (IV)
Chúng ta đang tương giao về một chủ đề đặc biệt hôm nay. Đối với mỗi một tín đồ, chỉ có hai điều chính cần biết, cần trải nghiệm và hiểu. Hai điều này là gì? Điều đầu tiên là lối vào sự sống của cá nhân mỗi con người, và điều thứ hai liên quan đến việc biết Đức Chúa Trời. Về đề tài mà chúng ta vừa mới trao đổi, chủ đề biết đến Đức Chúa Trời, các ngươi có nghĩ rằng điều đó là có thể đạt được không? Công bằng mà nói thì điều ấy quả thật vượt tầm với của hầu hết mọi người. Các ngươi có thể không phục lời Ta, nhưng tại sao Ta lại phán điều này? Ta phán điều này là vì khi các ngươi lắng nghe những gì Ta nói trước kia, bất kể Ta đã nói thế nào hay với những lời lẽ gì, thì về câu chữ lẫn lý thuyết, các ngươi đều có thể biết những lời này nói về điều gì. Tuy nhiên, đối với hết thảy các ngươi, một vấn đề rất nghiêm trọng là các ngươi đã không hiểu tại sao Ta phán những điều như thế hay tại sao Ta nói về những đề tài ấy. Đây là mấu chốt của vấn đề. Do vậy, mặc dù việc các ngươi đã nghe những điều này bổ sung một chút và làm phong phú sự hiểu biết của các ngươi về Đức Chúa Trời và những việc làm của Ngài, các ngươi vẫn cảm thấy rằng việc biết đến Đức Chúa Trời đòi hỏi nỗ lực mãnh liệt. Nghĩa là, sau khi nghe những gì Ta phán, hầu hết các ngươi đều không hiểu tại sao Ta phán điều đó hay nó có mối liên hệ gì với việc biết Đức Chúa Trời. Lý do các ngươi không thể hiểu mối liên hệ của nó với việc biết Đức Chúa Trời là vì trải nghiệm sống của các ngươi quá hời hợt. Nếu kiến thức và trải nghiệm của con người về lời Chúa vẫn ở mức độ rất nông cạn, thì đa phần kiến thức của họ về Ngài sẽ mơ hồ và trừu tượng; tất cả sẽ chung chung, mang tính học thuyết và lý thuyết. Về lý thuyết, nó có thể có vẻ hoặc nghe chừng lô-gic và hợp lý, nhưng kiến thức về Đức Chúa Trời phát ra từ miệng hầu hết mọi người thật ra là rỗng tuếch. Và tại sao Ta nói rằng nó rỗng tuếch? Đó là vì ngươi không thật sự có sự hiểu biết rõ ràng về tính xác thực và chính xác của những gì bản thân ngươi nói liên quan đến việc biết Đức Chúa Trời. Như thế, mặc dù hầu hết mọi người đã nghe rất nhiều thông tin và đề tài về việc biết Đức Chúa Trời, nhưng kiến thức của họ về Đức Chúa Trời chưa vượt ra khỏi lý thuyết và học thuyết mơ hồ, trừu tượng. Vậy thì làm sao vấn đề này có thể được giải quyết? Các ngươi có bao giờ nghĩ về điều đó chưa? Nếu ai đó không theo đuổi lẽ thật, liệu họ có thể sở hữu được hiện thực không? Nếu ai đó không theo đuổi lẽ thật, vậy thì họ chắc chắn không có được hiện thực, và vì lẽ ấy họ hiển nhiên không có kiến thức hay trải nghiệm về lời Chúa. Có thể nào những người không có sự hiểu biết về lời Chúa mà biết được Chúa không? Tuyệt đối không; hai điều này liên kết với nhau. Vì lẽ ấy, hầu hết mọi người nói: “Tại sao việc biết Đức Chúa Trời lại khó như vậy? Khi tôi nói về việc biết bản thân mình, tôi có thể nói hàng giờ, nhưng khi nói đến biết Đức Chúa Trời, tôi lại chẳng có lời nào. Ngay cả khi tôi có thể nói một chút về chủ đề này, những lời của tôi cũng gượng gạo và nghe chán ngắt, thậm chí có vẻ ngượng nghịu khi tôi nghe chính mình nói những lời đó”. Đây là nguồn cơn. Nếu ngươi cảm thấy rằng việc biết Đức Chúa Trời là quá khó, rằng việc biết Đức Chúa Trời cần rất nhiều nỗ lực, hay rằng ngươi không có chủ đề gì để đưa ra và không thể nghĩ về bất cứ điều gì thực tế để tương giao, cung cấp cho người khác và cho bản thân mình, vậy thì điều này chứng tỏ rằng ngươi không phải là người đã trải nghiệm lời Chúa. Lời Chúa là những gì? Chẳng phải lời Ngài là những sự bày tỏ về việc Đức Chúa Trời có gì và là gì sao? Nếu ngươi chưa trải nghiệm lời Chúa, liệu ngươi có thể có bất kỳ kiến thức nào về việc Ngài có gì và là gì không? Chắc chắn là không. Những điều này đều liên quan với nhau. Nếu ngươi không có trải nghiệm về lời Đức Chúa Trời, vậy thì ngươi không thể nắm bắt được ý muốn của Đức Chúa Trời, cũng không biết tâm tính của Ngài là gì, Ngài thích gì, Ngài ghê tởm điều gì, những yêu cầu của Ngài với con người là gì, Ngài có kiểu thái độ gì với người lành, và Ngài có kiểu thái độ gì với kẻ ác; toàn bộ những điều này chắc hẳn nhập nhằng và mờ mịt với ngươi. Nếu ngươi tin Đức Chúa Trời giữa sự mờ mịt như thế, vậy thì khi ngươi tuyên bố là một trong những người theo đuổi lẽ thật và theo Đức Chúa Trời, những tuyên bố ấy liệu có tính hiện thực không? Chúng không có! Vì lẽ ấy chúng ta hãy tiếp tục tương giao về việc biết Đức Chúa Trời.

Thứ Tư, 29 tháng 4, 2020

Tuân giữ các điều răn và thực hành lẽ thật

Trên thực tế, việc tuân giữ các điều răn phải nên được liên kết với việc thực hành lẽ thật. Trong khi tuân giữ các điều răn, con người phải thực hành lẽ thật. Khi thực hành lẽ thật, con người không nên vi phạm những nguyên tắc của các điều răn hay đi ngược lại các điều răn. Hãy làm những gì Đức Chúa Trời yêu cầu ngươi làm. Việc tuân giữ các điều răn và thực hành lẽ thật liên kết lẫn nhau chứ không đối lập nhau. Càng thực hành lẽ thật, ngươi càng tuân giữ bản chất của các điều răn. Càng thực hành lẽ thật, ngươi sẽ càng hiểu lời Chúa được bày tỏ trong các điều răn. Việc thực hành lẽ thật và tuân giữ các điều răn không phải là những hành động đối lập nhau, mà đúng hơn là liên kết lẫn nhau. Vào lúc bắt đầu, chỉ sau khi con người tuân giữ các điều răn thì họ mới có thể thực hành lẽ thật và đạt được sự khai sáng từ Đức Thánh Linh. Thế nhưng đây không phải là ý định ban đầu của Đức Chúa Trời. Đức chúa Trời yêu cầu ngươi thờ phượng Đức Chúa Trời bằng tấm lòng, chứ không chỉ thực hành cách ăn ở tốt. Thế nhưng ngươi phải tuân giữ các điều răn, chí ít là ở bề ngoài. Dần dần, thông qua kinh nghiệm, con người có được sự hiểu biết tỏ tường hơn về Đức Chúa Trời. Con người thôi không nổi loạn và chống đối Đức Chúa Trời nữa, và con người thôi không nghi ngờ công việc của Đức Chúa Trời nữa. Theo cách này, con người có thể tuân theo bản chất của các điều răn. Do đó, việc đơn thuần tuân giữ các điều răn mà không thực hành lẽ thật là không hiệu quả và không tạo nên sự thờ phượng Đức Chúa Trời thật sự bởi vì ngươi chưa đạt đến vóc giạc thật. Nếu ngươi tuân giữ các điều răn mà không có lẽ thật thì điều này chẳng khác nào chỉ giữ các quy tắc một cách cứng nhắc. Khi làm như thế, các điều răn trở thành luật lệ của ngươi và điều này sẽ không giúp ngươi phát triển trong cuộc sống. Trái lại, chúng sẽ trở thành gánh nặng của ngươi, và sẽ ràng buộc ngươi thật chặt giống như luật lệ của Cựu Ước, khiến ngươi mất đi sự hiện diện của Đức Thánh Linh. Do đó, chỉ bằng cách thực hành lẽ thật, ngươi mới có thể tuân giữ các điều răn một cách hiệu quả. Con người tuân giữ các điều răn để thực hành lẽ thật. Ngươi thậm chí thực hành nhiều lẽ thật hơn nữa thông qua việc tuân giữ các điều răn. Ngươi thậm chí có được sự hiểu biết nhiều hơn về ý nghĩa thực tế của các điều răn thông qua việc thực hành lẽ thật. Mục đích và ý nghĩa mệnh lệnh của Đức Chúa Trời về việc con người phải tuân giữ các điều răn không phải là để làm theo các lễ nghi như con người có thể tưởng tượng, mà đúng hơn là liên quan đến lối vào sự sống của con người. Ngươi càng lớn mạnh trong cuộc sống, mức độ mà ngươi sẽ có thể tuân giữ các điều răn càng cao. Mặc dù các điều răn là để con người tuân giữ, nhưng bản chất của các điều răn chỉ trở nên rõ ràng thông qua kinh nghiệm sống của con người. Hầu hết mọi người nghĩ rằng việc tuân giữ tốt các điều răn có nghĩa là “mọi sự đã sẵn sàng, tất cả những gì còn lại phải được bắt kịp”. Đây là sự tưởng tượng phi lý và không phải là ý muốn của Đức Chúa Trời. Những ai nói những điều như thế đều không muốn tiến bộ và đều mê tham xác thịt. Điều này là vô nghĩa! Điều này không phù hợp với thực tế! Chỉ thực hành lẽ thật mà trên thực tế không giữ các điều răn thì không phải là ý muốn của Đức Chúa Trời. Những kẻ làm điều này là người què quặt; họ như những người mất một chân. Chỉ tuân giữ các điều răn và bám sát các điều răn một cách cứng nhắc mà không có lẽ thật thì cũng không làm trọn ý muốn của Đức Chúa Trời; giống như kẻ mất một mắt, những kẻ làm điều này cũng chịu đựng một dạng tật nguyền. Có thể nói rằng nếu ngươi tuân giữ tốt các điều răn và có được sự hiểu biết tỏ tường về Đức Chúa Trời thực tế, thì ngươi sẽ có lẽ thật. Từ góc độ cân xứng, ngươi sẽ có được vóc giạc thật. Ngươi thực hành lẽ thật mà ngươi nên thực hành và đồng thời tuân giữ các điều răn mà không mâu thuẫn lẫn nhau. Thực hành lẽ thật và tuân giữ các điều răn là hai hệ thống, cả hai đều là những phần không thể thiếu trong kinh nghiệm sống của con người. Kinh nghiệm của con người phải bao gồm sự tích hợp giữa việc giữ các điều răn với việc thực hành lẽ thật, chứ không phải sự phân chia. Tuy nhiên, giữa hai điều này vừa có những điểm khác biệt vừa có những sự kết nối.

Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2020

Các kinh nghiệm của Phi-e-rơ: Hiểu biết của ông về sự phán xét và sửa phạt

Hội Thánh Đức Chúa Trời Toàn Năng | Các kinh nghiệm của Phi-e-rơ: Hiểu biết của ông về sự phán xét và sửa phạt
Khi bị Đức Chúa Trời sửa phạt, Phi-e-rơ đã cầu nguyện: “Lạy Đức Chúa Trời! Xác thịt con bất tuân lệnh, và Chúa sửa phạt con, phán xét con. Con vui sướng trong sự sửa phạt và phán xét của Ngài, và thậm chí nếu Ngài không còn muốn con, trong sự phán xét của Ngài, con thấy rõ tâm tính công chính và thánh khiết của Ngài. Con bằng lòng khi Ngài phán xét con, để những kẻ khác có thể nhìn thấy tâm tính công chính trong sự phán xét của Ngài. Con chỉ mong rằng tâm tính công chính của Ngài có thể được thể hiện ra để muôn vật có thể nhìn thấy và con có thể yêu Chúa một cách thuần khiết hơn thông qua sự phán xét của Ngài và có được hình tượng giống một con người công chính. Sự phán xét này của Chúa là tốt đẹp vì đó chính là lòng nhân từ của Ngài. Con biết rằng trong con vẫn còn nhiều sự nổi loạn, và rằng con vẫn chưa xứng đáng để đến trước Chúa. Con ước Ngài thậm chí sẽ phán xét con nhiều hơn dù đó là thông qua nghịch cảnh hay những nỗi cùng cực; cho dù Ngài có làm gì đi chăng nữa thì điều đó vẫn đáng trân quý đối với con. Tình yêu thương của Chúa thật sâu rộng, và con sẵn lòng phó thác bản thân dưới sự định đoạt của Ngài mà không chút kêu than”. Đây là hiểu biết của Phi-e-rơ sau khi ông đã trải nghiệm công tác của Đức Chúa Trời và đây cũng là lời chứng về tình yêu của Phi-e-rơ dành cho Ngài. Giờ đây, các ngươi đã bị chinh phục - nhưng sự chinh phục đó biểu lộ ở các ngươi như thế nào? Một vài người nói rằng: “Sự chinh phục của tôi là sự nâng đỡ và ân điển tối thượng của Đức Chúa Trời. Chỉ đến bây giờ tôi mới nhận ra rằng cuộc đời con người thật trống rỗng và vô nghĩa. Con người dành trọn cuộc đời sống vội vã, sinh con đẻ cái và nuôi dưỡng thế hệ nối tiếp thế hệ con cháu và cuối cùng cũng chẳng còn lại gì. Giờ đây, chỉ sau khi được Đức Chúa Trời chinh phục, tôi mới thấy rằng sống như thế này chẳng mang lại chút giá trị gì; đó thực sự là một cuộc sống vô nghĩa. Tôi có lẽ nên chết đi và kết thúc mọi thứ!” Những người đã bị chinh phục như vậy liệu có thể được Đức Chúa Trời thu nhận không? Liệu họ có thể trở thành hình mẫu và kiểu mẫu được không? Những người như thế là một bài học về sự thụ động, họ không có khát vọng và không nỗ lực để cải thiện bản than. Mặc dù họ coi bản thân đã bị chinh phục, nhưng những người thụ động như vậy không thể trở nên hoàn thiện. Vào gần cuối đời, sau khi đã được hoàn thiện, Phi-e-rơ nói rằng: “Đức Chúa Trời ôi! Nếu được sống thêm vài năm nữa, con ước mình có thể có được tình yêu sâu đậm hơn và thuần khiết hơn dành cho Ngài”. Khi sắp bị đóng đinh vào thập giá, Phi-e-rơ cầu nguyện trong lòng: “Lạy Đức Chúa Trời! Thời khắc của Ngài đã tới, thời khắc Ngài chuẩn bị cho con đã tới. Con phải bị đóng đinh vì Chúa, con phải làm chứng cho Ngài, và con hi vọng rằng tình yêu của con có thể đáp ứng các yêu cầu của Ngài và rằng tình yêu đó có thể trở nên thuần khiết hơn. Giờ đây, con cảm thấy thoải mái và vững dạ khi có thể chết vì Chúa, và bị đóng đinh lên thập giá vì Ngài, bởi vì chẳng có gì khiến con thỏa lòng hơn là việc có thể bị đóng đinh vì Ngài, đáp ứng những mong mỏi của Ngài, và có thể dâng hiến bản thân, dâng hiến mạng sống của con cho Ngài. Lạy Chúa! Chúa thật đáng mến biết bao! Nếu Ngài cho con được sống, con sẽ càng nguyện yêu mến Ngài. Con sẽ yêu mến Ngài cho đến khi vẫn còn hơi thở. Con ước được yêu mến Chúa sâu đậm hơn. Ngài phán xét con, sửa phạt con, và thử thách con vì con không công chính, vì con đã gây ra tội lỗi. Và con đã hiểu rõ hơn tâm tính công chính của Ngài. Đây là phước lành với con, vì con có thể yêu Chúa sâu đậm hơn, và con nguyện lòng yêu Ngài theo cách này ngay cả khi Ngài không yêu thương con. Con sẵn lòng nhìn ra tâm tính công chính của Chúa, vì điều này khiến con càng có thể theo đuổi một cuộc sống có ý nghĩa. Con thấy rằng cuộc sống của con giờ đây có ý nghĩa hơn, bởi vì con bị đóng đinh vì Chúa, và được chết vì Ngài là một điều ý nghĩa. Nhưng con vẫn không thấy thỏa lòng, vì con biết quá ít về Chúa, con biết rằng con không thể hoàn toàn đáp ứng những mong mỏi của Ngài, và con mới đền đáp được quá ít cho Ngài. Trong đời con, con vẫn chưa thể trọn vẹn quay về bên Chúa; điều đó còn quá xa vời với con. Khi nhìn lại khoảnh khắc này, con thấy mình mắc nợ Ngài quá nhiều, và con chỉ có thời khắc này để bù đắp cho tất cả những sai lầm và tất cả tình yêu mà con chưa đền đáp được cho Ngài”.

Thứ Sáu, 24 tháng 4, 2020

Xét về Kinh Thánh (3)

Không phải mọi thứ trong Kinh Thánh đều là một bản ghi chép về những lời Đức Chúa Trời đã đích thân phán dạy. Kinh Thánh chỉ đơn giản ghi lại hai giai đoạn trước của công tác Đức Chúa Trời, một phần là bản ghi chép về những lời tiên báo của các tiên tri, còn một phần là những kinh nghiệm và kiến thức được viết bởi những người được Đức Chúa Trời sử dụng qua các thời đại. Những kinh nghiệm của con người bị vấy bẩn bởi những quan điểm và kiến thức của con người, đó là điều không thể tránh khỏi. Trong nhiều sách của Kinh Thánh có chứa những ý niệm của con người, những thành kiến của con người, và những nhận thức phi lý của con người. Tất nhiên, hầu hết những lời đều là kết quả của sự khai sáng và soi sáng của Đức Thánh Linh, và chúng là những hiểu biết chính xác - nhưng vẫn không thể nói rằng chúng là những sự bày tỏ hoàn toàn chính xác về lẽ thật. Những quan điểm của họ về những điều cụ thể không gì khác hơn là kiến thức từ kinh nghiệm cá nhân, hoặc sự khai sáng của Đức Thánh Linh. Việc tiên báo của các tiên tri đã được Đức Chúa Trời đích thân chỉ dẫn: Những lời tiên tri tương tự như của Ê-sai, Đa-ni-ên, E-xơ-ra, Giê-rê-mi và Ê-xê-chi-ên xuất phát từ sự chỉ dẫn trực tiếp của Đức Thánh Linh, những người này là những nhà tiên kiến, họ đã nhận được Thần tiên tri, tất cả họ đều là các tiên tri của Cựu Ước. Trong Thời đại Luật pháp, những người này là những người đã nhận được sự soi dẫn của Đức Giê-hô-va, đã nói nhiều lời tiên tri được Đức Giê-hô-va trực tiếp chỉ dẫn. Và tại sao Đức Giê-hô-va đã làm việc qua họ? Bởi vì dân Y-sơ-ra-ên là dân sự được Chúa chọn, và công tác của các tiên tri phải được thực hiện giữa họ; đó là lí do tại sao các tiên tri có thể nhận được những sự mặc khải như thế. Thực ra, chính họ đã không hiểu những sự mặc khải của Đức Chúa Trời cho họ. Đức Thánh Linh đã phán những lời đó qua miệng của họ hầu cho những người trong tương lai có thể thấu hiểu được những điều đó, và thấy rằng chúng thực sự là công tác của Thần của Đức Chúa Trời, của Đức Thánh Linh, chứ không đến từ con người, và để ban cho họ sự quả quyết về công tác của Đức Thánh Linh. Trong Thời đại Ân điển, chính Jêsus đã làm tất cả công tác này thay cho họ, và vì vậy mọi người không còn nói tiên tri nữa. Vậy Jêsus có phải là một tiên tri không? Dĩ nhiên, Jêsus là một tiên tri, nhưng Ngài cũng có thể làm công tác của các sứ đồ: Ngài có thể vừa nói tiên tri vừa rao giảng và dạy bảo mọi người trên khắp vùng đất. Tuy nhiên, công tác Ngài đã làm và danh tính mà Ngài đại diện là khác. Ngài đã đến để cứu chuộc toàn nhân loại, để cứu chuộc con người khỏi tội lỗi; Ngài là một tiên tri và là một sứ đồ, nhưng hơn thế nữa, Ngài là Đấng Christ. Một tiên tri có thể nói tiên tri, nhưng không thể nói rằng người là Đấng Christ. Vào lúc đó, Jêsus đã phán nhiều lời tiên tri, và vì vậy có thể nói rằng Ngài là một tiên tri, nhưng không thể nói rằng vì Ngài là một tiên tri nên không phải là Đấng Christ. Đó là bởi vì Ngài đã đại diện cho chính Đức Chúa Trời trong việc thực hiện một giai đoạn công tác, và danh tính của Ngài khác với của Ê-sai: Ngài đã đến để hoàn tất công tác cứu chuộc, Ngài cũng đã cung cấp sự sống cho con người, và Thần của Đức Chúa Trời đã đến với Ngài một cách trực tiếp. Trong công tác Ngài đã làm, không có sự soi dẫn nào từ Thần của Đức Chúa Trời hoặc những chỉ dẫn từ Đức Giê-hô-va. Thay vào đó, Thần đã làm việc trực tiếp - điều đó đủ để chứng tỏ rằng Jêsus không giống như một nhà tiên tri. Công tác Ngài đã làm là công tác cứu chuộc, đứng thứ hai tiếp sau đó mới là việc nói tiên tri. Ngài là một tiên tri, một sứ đồ, và hơn thế nữa Ngài là Đấng Cứu Chuộc. Trong khi đó, những người tiên báo chỉ có thể nói tiên tri, và không có khả năng đại diện cho Thần của Đức Chúa Trời để làm bất kỳ công tác nào khác. Bởi vì Jêsus đã làm nhiều việc mà trước đây chưa từng được con người thực hiện và đã làm công tác cứu chuộc nhân loại, do đó Ngài khác với những người như Ê-sai. Việc một số người không chấp nhận dòng chảy của ngày nay là vì điều này đã tạo ra một trở ngại cho họ. Họ nói: “Trong Cựu Ước, nhiều tiên tri cũng đã phán nhiều lời - vậy tại sao họ không phải là Đức Chúa Trời trở nên xác thịt? Đức Chúa Trời của ngày nay phán lời - điều đó có đủ để chứng minh rằng Ngài là Đức Chúa Trời nhập thể không? Bạn không tôn trọng Kinh Thánh, bạn cũng không nghiên cứu nó - vậy bạn có cơ sở nào để nói rằng Ngài là sự nhập thể của Đức Chúa Trời? Bạn nói rằng họ được Đức Thánh Linh chỉ dẫn, và bạn tin rằng giai đoạn công tác này là công tác do Đức Chúa Trời đích thân thực hiện - nhưng cơ sở của bạn cho điều này là gì? Bạn dồn sự tập trung vào những lời của Đức Chúa Trời ngày nay, trông như thể bạn đã phủ nhận Kinh Thánh, và đặt nó sang một bên”. Và vì vậy họ nói rằng ngươi tin vào tà giáo và dị giáo.

Thứ Năm, 23 tháng 4, 2020

Ngươi phải duy trì sự tận tâm của mình với Đức Chúa Trời

Đức Thánh Linh hoạt động như thế nào trong hội thánh ngày nay? Ngươi có nắm vững vấn đề này không? Những khó khăn lớn nhất của các anh chị em ngươi là gì? Họ thiếu điều gì nhiều nhất? Hiện tại, có một số người tiêu cực khi trải qua những thử thách, và một số thậm chí than oán. Những người khác thì không còn tiến tới nữa bởi Đức Chúa Trời đã xong việc phán dạy. Con người chưa bước vào đúng hướng của niềm tin nơi Đức Chúa Trời. Họ không thể sống một cách độc lập, và họ không thể duy trì đời sống tâm linh của riêng mình. Một số người nhiệt huyết theo đuổi, và sẵn lòng thực hành khi Đức Chúa Trời phán bảo, nhưng khi Đức Chúa Trời không phán bảo, thì họ không còn tiến tới nữa. Người ta vẫn chưa hiểu ý muốn của Đức Chúa Trời trong lòng họ và họ không có tình yêu tự nhiên đối với Đức Chúa Trời; trong quá khứ, họ đã theo Đức Chúa Trời bởi vì họ bị ép buộc. Bây giờ có vài người đã mệt mỏi với công tác của Đức Chúa Trời. Chẳng phải những người như thế đang gặp nguy hiểm sao? Rất nhiều người tồn tại trong trạng thái đơn thuần đối phó. Mặc dù họ ăn uống lời Chúa và cầu nguyện với Ngài, họ lại làm một cách nửa vời, và họ không còn động lực mà họ từng có. Hầu hết mọi người đều không quan tâm đến công tác tinh luyện và hoàn thiện của Đức Chúa Trời, và thật sự cứ như thể họ thường xuyên chẳng có bất kỳ nghị lực bên trong nào. Khi họ vượt qua những tội trọng, họ không cảm thấy mắc nợ Đức Chúa Trời, họ cũng không có sự nhận biết để cảm thấy ăn năn. Họ không theo đuổi lẽ thật hay rời khỏi hội thánh, mà thay vào đó chỉ theo đuổi những lạc thú nhất thời. Những người này thật xuẩn ngốc, hoàn toàn ngu ngốc! Khi đến lúc, tất cả họ sẽ bị bỏ ra, và sẽ không một người nào được cứu rỗi! Ngươi có nghĩ rằng nếu ai đó đã được cứu rỗi một lần thì họ sẽ luôn được cứu rỗi không? Niềm tin này chỉ là sự lừa dối! Tất cả những ai không theo đuổi lối vào sự sống sẽ bị trừng phạt. Hầu hết mọi người đều tuyệt đối không quan tâm đến việc bước vào sự sống, đến những khải tượng, hay đến việc đưa lẽ thật vào thực hành. Họ không theo đuổi sự bước vào và họ chắc chắn không theo đuổi việc bước vào sâu hơn. Chẳng phải họ đang làm hỏng chính mình sao? Ngay bây giờ, có một số người mà những tình trạng của họ liên tục cải thiện. Đức Thánh Linh càng hoạt động, họ càng đạt được sự tự tin; họ càng trải nghiệm, họ càng cảm nhận được lẽ mầu nhiệm thâm sâu trong công tác của Đức Chúa Trời. Bước vào càng sâu, họ càng hiểu nhiều hơn. Họ cảm thấy tình yêu của Đức Chúa Trời thật vĩ đại, họ cảm thấy vững vàng và được khai sáng bên trong bản thân mình. Họ có một sự hiểu biết về công tác của Đức Chúa Trời. Đây là những người mà Đức Thánh Linh đang hoạt động bên trong. Một số người nói: “Mặc dù không có những lời mới từ Đức Chúa Trời, tôi vẫn phải cố gắng đi sâu hơn vào lẽ thật, tôi phải sốt sắng với mọi thứ trong trải nghiệm thật của mình và bước vào tính hiện thực của lời Chúa”. Đây là dạng người sở hữu công tác của Đức Thánh Linh. Mặc dù Đức Chúa Trời không lộ diện và ẩn khỏi mỗi người, và mặc dù Ngài không phán lời nào và có những lúc người ta trải nghiệm sự tinh luyện bên trong nào đó, nhưng Đức Chúa Trời vẫn chưa hoàn toàn rời bỏ con người. Nếu một người không thể duy trì lẽ thật mà họ nên thực hiện, họ sẽ không có công tác của Đức Thánh Linh. Trong khoảng thời gian tinh luyện, Đức Chúa Trời không bày tỏ chính Ngài, nếu ngươi không có sự tự tin mà thay vào đó lại co rúm, nếu ngươi không tập trung vào trải nghiệm lời Chúa, vậy thì ngươi đang lẩn trốn công tác của Đức Chúa Trời. Về sau, ngươi sẽ là một trong những người bị bỏ ra. Những ai không cố gắng bước vào lời Chúa thì không thể đứng ra làm chứng cho Ngài. Những người có thể làm chứng cho Đức Chúa Trời và đáp ứng ý muốn của Ngài đều hoàn toàn dựa vào nghị lực của họ để theo đuổi lời Chúa. Công tác mà Đức Chúa Trời thực hiện trong con người chủ yếu là để cho phép họ đạt được lẽ thật; việc để ngươi theo đuổi sự sống là vì lợi ích của việc hoàn thiện ngươi, và đây là tất cả những gì làm cho ngươi thích hợp để Đức Chúa Trời sử dụng. Tất cả những gì ngươi đang theo đuổi bây giờ là nghe những chuyện kỳ bí, lắng nghe lời Chúa, đãi mắt, và nhìn quanh để xem có gì mới lạ hay xu hướng nào không, và từ đó thỏa mãn tính tò mò của ngươi. Nếu đây là ý định trong lòng ngươi, vậy thì không cách nào để ngươi đáp ứng được những yêu cầu của Đức Chúa Trời. Những ai không theo đuổi lẽ thật thì không thể theo cho đến cùng. Ngay bây giờ, không phải là Đức Chúa Trời không đang làm gì, mà đúng hơn là con người không đang phối hợp với Ngài, bởi vì họ mệt mỏi với công tác của Ngài. Họ chỉ muốn nghe những lời Ngài phán để ban phúc lành, và họ không sẵn lòng nghe những lời của sự phán xét và trừng phạt của Ngài. Lý do cho điều này là gì? Lý do là những mong muốn đạt được phúc lành của con người chưa được thực hiện và vì lẽ ấy họ đã trở nên tiêu cực và yếu đuối. Không phải là Đức Chúa Trời chủ đích không cho phép con người theo Ngài, Ngài cũng không chủ đích giáng những tai họa xuống nhân loại. Con người tiêu cực và yếu đuối chỉ vì những ý định của họ không đúng đắn. Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời ban cho con người sự sống, và Ngài không thể đẩy con người vào sự chết. Sự tiêu cực, yếu đuối, và thụt lùi của con người đều bắt nguồn từ việc làm của chính họ.

Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2020

Về trải nghiệm

Xuyên suốt trải nghiệm của Phi-e-rơ, ông đã gặp phải hàng trăm thử thách. Mặc dù con người ngày nay biết thuật ngữ “thử thách”, nhưng họ bị nhầm lẫn về ý nghĩa thực sự và hoàn cảnh của từ này. Đức Chúa Trời tôi luyện ý chí quyết tâm của con người, tinh luyện sự tin chắc của họ và hoàn thiện mọi phần của họ - và việc này chủ yếu đạt được thông qua các thử thách, cũng là công tác của Đức Thánh Linh mà mọi người không thể thấy. Điều đó như thể Đức Chúa Trời đã bỏ rơi con người, và vì vậy nếu không cẩn thận, họ sẽ xem những thử thách này là cám dỗ của Sa-tan. Trong thực tế, nhiều thử thách có thể được coi là cám dỗ, và đây là nguyên tắc và luật lệ trong công tác của Đức Chúa Trời. Nếu con người thực sự sống trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời, họ sẽ coi những thứ này là thử thách từ Đức Chúa Trời, và sẽ không để tuột mất những thử thách này. Nếu ai đó nói rằng vì Đức Chúa Trời ở cùng họ, Sa-tan chắc chắn sẽ không đến gần họ, điều này không hoàn toàn chính xác; nếu như vậy thì làm thế nào có thể giải thích rằng Jêsus đã phải đối mặt với những cám dỗ sau khi Ngài đã kiêng ăn nơi đồng vắng trong bốn mươi ngày? Vì vậy, nếu con người thực sự điều chỉnh cho đúng đắn quan điểm của họ về niềm tin vào Đức Chúa Trời, thì họ sẽ thấy nhiều điều rõ ràng hơn nữa, và sự hiểu biết của họ sẽ không bị sai lệch và lầm lạc. Nếu ai đó thực sự quyết tâm để được Đức Chúa Trời làm cho hoàn thiện, thì họ phải tiếp cận những vấn đề đối mặt với họ từ nhiều góc độ khác nhau, không nghiêng ngả sang bên hữu hay bên tả. Nếu ngươi không có kiến thức về công tác của Đức Chúa Trời, thì ngươi sẽ không biết cách hợp tác với Đức Chúa Trời. Nếu ngươi không biết các nguyên tắc trong công tác của Đức Chúa Trời và không biết Sa-tan hoạt động ra sao trong con người, thì ngươi sẽ không có con đường đi đến thực hành. Chỉ có sự theo đuổi nhiệt tình không thôi sẽ không cho phép ngươi đạt được những kết quả mà Đức Chúa Trời yêu cầu. Một phương pháp trải nghiệm như vậy khá giống với Lawrence: không phân biệt bất cứ điều gì và chỉ tập trung vào trải nghiệm, hoàn toàn không biết công việc của Sa-tan là gì, công tác của Đức Thánh Linh là gì, con người như thế nào nếu không có sự hiện diện của Đức Chúa Trời, và loại người nào Đức Chúa Trời muốn hoàn thiện. Những nguyên tắc nào nên được áp dụng khi tiếp xúc với những loại người khác nhau, làm thế nào để nắm bắt ý muốn của Đức Chúa Trời trong hiện tại, làm thế nào để biết được tâm tính của Đức Chúa Trời, và sự thương xót, oai nghi và công chính của Đức Chúa Trời là dành cho người nào, hoàn cảnh nào và thời đại nào - người không có nhận thức về những vấn đề này. Nếu con người không có nhiều khải tượng làm nền tảng cho trải nghiệm của họ, thì cuộc sống sẽ không còn gì để bàn, và việc trải nghiệm thì còn tồi tệ hơn nữa; họ có thể tiếp tục quy phục và chịu đựng mọi thứ một cách ngu ngốc. Những người như vậy rất khó để làm cho hoàn thiện. Có thể nói rằng nếu ngươi không có những khải tượng đã nói ở trên, thì đây là bằng chứng rất rõ ràng cho thấy ngươi là một kẻ ngốc, ngươi giống như tượng muối luôn đứng ở Y-sơ-ra-ên. Những kẻ như vậy là vô dụng, vô tích sự! Một số người chỉ biết quy phục một cách mù quáng, họ luôn biết mình và luôn sử dụng những cách tự xử lý khi giải quyết những vấn đề mới, hoặc họ sử dụng “sự khôn ngoan” để xử lý những vấn đề tầm thường không đáng nhắc đến. Những người như vậy không có nhận thức, như thể bản chất của họ là cam chịu để được chọn, và họ luôn như vậy, họ không bao giờ thay đổi. Những người như vậy là những kẻ ngốc, thiếu ngay cả nhận thức tối thiểu nhất. Họ không bao giờ cố gắng để đưa ra các biện pháp phù hợp với những hoàn cảnh hoặc với những người khác nhau. Những người như vậy không có trải nghiệm. Ta đã thấy một số người bị trói buộc trong sự hiểu biết về bản thân đến nỗi khi đối mặt với những kẻ bị xâm chiếm bởi hoạt động của tà linh, họ cúi đầu và xưng tội, không dám đứng lên và lên án những kẻ này. Còn khi đối diện với công tác hiển nhiên của Đức Thánh Linh, họ không dám vâng lời. Họ tin rằng những ác linh này cũng nằm trong tay của Đức Chúa Trời, và không có chút can đảm nào để đứng lên và chống lại chúng. Những người như thế này mang ô nhục cho Đức Chúa Trời, và hoàn toàn không có khả năng gánh vác trọng trách cho Ngài. Những kẻ bù nhìn như vậy không tạo ra sự khác biệt dưới bất kỳ hình thức nào. Do đó, chúng ta nên loại bỏ phương pháp trải nghiệm như vậy, vì phương pháp đó không thể đứng vững trong mắt Đức Chúa Trời.

Thứ Năm, 16 tháng 4, 2020

Liên quan đến thực hành cầu nguyện

Các ngươi không chú ý đến sự cầu nguyện trong đời sống hàng ngày của mình. Mọi người đã luôn bỏ qua sự cầu nguyện. Những lời cầu nguyện đã từng mang tính hình thức, con người chỉ làm chiếu lệ trước Đức Chúa Trời. Không một ai đã từng dâng trọn tấm lòng mình trướcChúa và tham gia cầu nguyện thực sự với Chúa. Mọi người chỉ cầu nguyện với Chúa khi có điều gì đó xảy đến với họ. Trong suốt thời gian này, ngươi đã bao giờ thực sự cầu nguyện với Chúa chưa? Ngươi đã bao giờ tuôn đổ nước mắt đau buồn trước mặt Chúa chưa? Ngươi đã bao giờ nhận biết chính mình trước mặt Chúa chưa? Ngươi đã bao giờ có một lời cầu nguyện tâm tình với Chúa chưa? Cầu nguyện kinh qua thực hành: Nếu ngươi không thường cầu nguyện ở nhà thì ngươi sẽ không có cách nào cầu nguyện trong nhà thờ, và nếu ngươi không thường cầu nguyện trong các nhóm nhỏ thì ngươi sẽ không có khả năng cầu nguyện trong các nhóm lớn. Nếu ngươi không thường đến gần với Chúa hoặc suy ngẫm về lời Chúa thì ngươi sẽ không có gì để nói khi cầu nguyện - và dù ngươi có cầu nguyện đi chăng nữa, thì ngươi sẽ chỉ nói trên môi mà thôi; ngươi sẽ không thực sự cầu nguyện.

Thứ Tư, 15 tháng 4, 2020

Chương 10

Trong thời gian xây dựng hội thánh, Đức Chúa Trời hầu như không đề cập đến việc xây dựng vương quốc. Ngay cả khi Ngài đưa ra điều đó, Ngài đã nói bằng ngôn ngữ của thời đại. Khi Thời đại Vương quốc đến, Đức Chúa Trời đã vứt bỏ những phương pháp và mối quan tâm nhất định của thời đó về việc xây dựng hội thánh chỉ bằng mộtquyết định duy nhất, và không bao giờ phán lại dù chỉ một từ về chúng nữa. Đây chính xác là ý nghĩa cơ bản của “Chính Đức Chúa Trời”, Đấng luôn luôn mới mẻ và không bao giờ cũ. Cũng như những điều có thể đã được thực hiện trong quá khứ, rốt cuộc, chúng là một phần của thời đại đã qua, do đó, Đức Chúa Trời phân những sự kiện quá khứ như vậy vào loại đã xảy ra trong thời đại trước Đấng Christ, trong khi ngày nay được biết đến là thời đại sau Đấng Christ. Từ đó có thể thấy rằng việc xây dựng hội thánh là điều kiện tiên quyết để xây dựng vương quốc; nó đặt nền móng để Đức Chúa Trời nắm quyền năng tối thượng của Ngài trong vương quốc. Việc xây dựng hội thánh là một miêu tả nhanh của thời nay; Công tác của Đức Chúa Trời trên đất chủ yếu tập trung vào phần này, đó là xây dựng vương quốc. Trước khi hoàn thành việc xây dựng hội thánh, Ngài đã có sự chuẩn bị cho tất cả các công tác phải hoàn thành, và khi thời cơ đến, Ngài chính thức bắt đầu công tác của mình. Đây là lý do tại sao Đức Chúa Trời phán, “Thời đại Vương quốc xét cho cùng khác với các thời đại đã qua. Nó không liên quan đến việc nhân loại hành động như thế nào; đúng hơn, Ta đã xuống trần gian để đích thân thực hiện công việc của Ta, đó là điều mà con người không thể hình dung cũng như không thể đạt được”. Thật vậy, công tác này phải được thực hiện bởi đích thân Đức Chúa Trời, không con người nào có khả năng làm việc đó; chỉ là họ không thể với tới nó. Ai có thể thực hiện công tác vĩ đại như vậy trong nhân loại ngoài Đức Chúa Trời? Còn ai khác có khả năng “hành hạ” toàn thể nhân loại thừa sống thiếu chết? Liệu con người có thể sắp đặt công tác như vậy không? Tại sao Ngài nói rằng: “Ta đã xuống trần gian để đích thân thực hiện công việc của Ta”? Có lẽ nào Thần của Đức Chúa Trời thực sự biến mất khỏi mọi không gian? Dòng này, “Ta đã xuống trần gian để đích thân thực hiện công việc của Ta” đề cập đến thực tế rằng Thần của Đức Chúa Trời nhập thể vào xác thịt để làm công tác, và cả thực tế rằng Thần của Đức Chúa Trời rõ ràng đang hoạt động thông qua loài người. Bằng cách đích thân thực hiện công tác của mình, Ngài cho phép nhiều người nhìn thấy chính Đức Chúa Trời bằng mắt thường; họ không cần phải tìm kiếm Ngài kỹ càng trong linh hồn của chính mình nữa. Hơn nữa, Ngài cho phép tất cả mọi người tận mắt nhìn thấy hoạt động của Thần, cho họ thấy rằng có một sự khác biệt cơ bản giữa xác thịt của con người và của Đức Chúa Trời. Đồng thời, xuyên khắp không gian, thế giới vũ trụ, Thần của Đức Chúa Trời đang hoạt động. Tất cả dân sự của Đức Chúa Trời, những người đã được khai sáng, đã chấp nhận danh Chúa, thấy Thần của Đức Chúa Trời hoạt động như thế nào và nhờ đó trở nên thậm chí quen thuộc hơn với Đức Chúa Trời nhập thể. Như vậy, chỉ khi thần tính của Đức Chúa Trời hoạt động trực tiếp - nghĩa là chỉ khi Thần của Đức Chúa Trời có thể hoạt động mà không có sự can thiệp nào dù là nhỏ nhất - thì con người mới có thể trở nên quen thuộc với chính Đức Chúa Trời thực tế. Đây là cốt lõi của việc xây dựng vương quốc.

Thứ Ba, 14 tháng 4, 2020

Lẽ mầu nhiệm của sự nhập thể (4)

Hội Thánh Đức Chúa Trời Toàn Năng | Đức Chúa Trời phán:″Lẽ mầu nhiệm của sự nhập thể (4)″
Các ngươi nên biết về câu chuyện đằng sau Kinh Thánh và về sự hình thành của nó. Kiến thức này không thuộc về những ai chưa chấp nhận công tác mới của Đức Chúa Trời. Họ không biết. Nếu ngươi phải nói thẳng thắn về những vấn đề thuộc bản chất này với họ, họ sẽ không còn là người câu nệ về Kinh Thánh với ngươi nữa. Họ đang liên tục đào sâu vào những gì đã được nói tiên tri: Tuyên bố này đã xảy ra chưa? Tuyên bố kia đã xảy ra chưa? Việc chấp nhận Phúc Âm của họ là theo Kinh Thánh; và họ rao giảng Phúc Âm theo Kinh Thánh. Niềm tin của họ vào Đức Chúa Trời dựa vào những lời trong Kinh Thánh; nếu không có Kinh Thánh, họ sẽ không tin vào Đức Chúa Trời. Đây là cách thức mà qua đó họ sống, đưa Kinh Thánh vào sự soi xét nhỏ nhặt. Khi họ một lần nữa đào sâu vào Kinh Thánh và yêu cầu ngươi giải thích, ngươi nói: “Trước tiên, chúng ta đừng xác minh từng lời tuyên bố. Thay vào đó, chúng ta hãy nhìn vào cách Đức Thánh Linh hành động. Chúng ta hãy lấy con đường mình đi và so sánh nó với lẽ thật để xem liệu con đường này có phù hợp với công tác của Đức Thánh Linh hay không, và dùng công tác của Đức Thánh Linh để kiểm tra xem liệu con đường như thế có đúng đắn hay không. Về việc tuyên bố này hoặc tuyên bố kia đã xảy ra như được tiên báo hay chưa, con người chúng ta không nên xía mũi vào việc đó. Thay vào đó, tốt hơn là chúng ta nên nói về công tác của Đức Thánh Linh và công tác mới nhất mà Đức Chúa Trời đã và đang làm”. Những lời tiên tri trong Kinh Thánh là những lời của Đức Chúa Trời được truyền lại vào thời đó bởi các tiên tri và những lời được viết ra bởi những người mà Đức Chúa Trời sử dụng sau khi đã đạt được sự linh hứng; chỉ chính Đức Chúa Trời mới có thể giải thích được những lời đó, chỉ Đức Thánh Linh mới có thể cho biết ý nghĩa của những lời đó, và chỉ chính Đức Chúa Trời mới có thể phá vỡ bảy ấn và mở quyển sách. Ngươi nói: “Bạn không phải là Đức Chúa Trời, và tôi cũng vậy, vậy ai dám giải thích những lời của Đức Chúa Trời một cách khinh suất? Bạn có dám giải thích những lời đó không? Ngay cả khi các tiên tri Giê-rê-mi, Giăng và Ê-li có đến, họ cũng sẽ không dám cố thử và giải thích những lời đó, vì họ không phải là Chiên Con. Chỉ Chiên Con mới có thể phá vỡ bảy ấn và mở quyển sách, và không ai khác có thể giải thích lời của Ngài. Tôi không dám choán lấy danh của Đức Chúa Trời, càng không cố gắng giải thích những lời của Đức Chúa Trời. Tôi chỉ có thể là một người vâng lời Chúa mà thôi. Bạn là Đức Chúa Trời sao? Không tạo vật nào của Đức Chúa Trời dám mở quyển sách hoặc giải thích những lời đó, và vì vậy tôi cũng không dám giải thích chúng. Bạn tốt hơn không nên cố gắng giải thích chúng. Không ai nên cố gắng giải thích. Chúng ta hãy nói về công tác của Đức Thánh Linh; bấy nhiêu đây thì con người có thể làm được. Tôi biết chút ít về công tác của Đức Giê-hô-va và Jêsus, nhưng vì tôi không có kinh nghiệm cá nhân nào về công tác đó, tôi chỉ có thể nói về nó ở một mức độ chừng mực. Về ý nghĩa của những lời mà Ê-sai hoặc Jêsus đã phán trong thời đại của họ, tôi sẽ không đưa ra lời giải thích nào. Tôi không học Kinh Thánh; thay vào đó, tôi theo công tác hiện tại của Đức Chúa Trời. Bạn thực sự xem Kinh Thánh như quyển sách nhỏ, nhưng chẳng phải nó là thứ mà chỉ Chiên Con mới có thể mở ra sao? Ngoài Chiên Con, còn ai khác có thể làm như vậy? Bạn không phải là Chiên Con, và tôi thì càng không dám tuyên bố mình chính là Đức Chúa Trời, vậy nên chúng ta đừng phân tích Kinh Thánh hoặc đưa nó ra soi xét nhỏ nhặt. Tốt hơn nhiều nên thảo luận công tác do Đức Thánh Linh thực hiện, nghĩa là công tác hiện tại được chính Đức Chúa Trời thực hiện. Chúng ta hãy xem các nguyên tắc mà qua đó Đức Chúa Trời hành động là gì và bản chất công tác của Ngài là gì, dùng những điều này để xác minh xem liệu con đường chúng ta đi ngày nay có đúng hay không, và theo cách này xác quyết được về điều đó”. Nếu các ngươi muốn rao giảng Phúc Âm, đặc biệt là cho những người trong giới tôn giáo, các ngươi phải hiểu Kinh Thánh và nắm vững câu chuyện bên trong nó; nếu không, sẽ không có cách nào để ngươi rao giảng Phúc Âm. Một khi ngươi đã am tường được bức tranh lớn hơn, và ngừng xem xét những lời đã hết hiệu lực của Kinh Thánh một cách tỉ mẩn, mà chỉ nói về công tác của Đức Chúa Trời và lẽ thật của sự sống, thì ngươi sẽ có thể thu phục được những người tìm kiếm với một tấm lòng chân thật.

Thứ Hai, 13 tháng 4, 2020

Luận bàn về đời sống hội thánh và đời sống thực

Con người ta cảm thấy rằng họ chỉ có thể cải hóa trong đời sống hội thánh, và nếu như họ không sống trong hội thánh thì cải hóa là điều bất khả thi, như thể sự cải hóa là điều bất khả thi trong đời sống thực vậy. Các ngươi có hiểu vấn đề ở đây không? Trước đây Ta đã bàn về việc đưa Đức Chúa Trời vào đời sống thực; đối với những người tin vào Chúa, đây là con đường dẫn đến hiện thực của lời Chúa. Thật vậy, đời sống hội thánh chỉ là một cách hữu hạn để hoàn thiện con người. Môi trường chính yếu để hoàn thiện con người vẫn là đời sống thực. Đây là sự thực hành và rèn luyện thực sự mà Ta đã bàn về, nó cho phép con người đạt được cuộc sống con người đúng nghĩa và sống trọn hình tượng của một con người đích thực trong cuộc sống hàng ngày. Một mặt, người ta phải học hỏi để nâng cao trình độ học vấn của chính mình, để hiểu lời Chúa và đạt tới khả năng tiếp nhận. Mặt khác, họ phải được trang bị kiến thức cơ bản cần có để sống như một con người nhằm có được cái nhìn sâu sắc và lý trí của nhân tính đúng nghĩa, bởi vì con người gần như hoàn toàn thiếu sót trong các lĩnh vực này. Hơn nữa, người ta cũng cần phải bắt đầu nếm trải lời Chúa thông qua đời sống hội thánh và dần dần đi đến hiểu biết rõ ràng về lẽ thật.

Chủ Nhật, 12 tháng 4, 2020

Chương 9

Ta phải nhắc ngươi, không được mơ hồ về những lời Ta nói và không được bất cẩn. Ngươi phải chú ý lắng nghe, làm theo ý của Ta. Ngươi phải luôn luôn tỉnh táo, không được có tâm tính ngạo mạn, phải luôn dựa vào Ta để xóa bỏ tâm tính cũ tự nhiên trong ngươi. Ngươi phải luôn duy trì trạng thái bình thường trước mặt ta và có tâm tính ổn định. Tâm tư phải rõ ràng, không chịu sự kiểm soát hoặc bị lung lay bởi bất kỳ ai, việc gì hoặc thứ gì, có thể luôn yên lặng trước mặt Ta, luôn đến gần và không ngừng trao đổi với Ta. Ngươi phải thể hiện sức mạnh, nghị lực, và đứng vững trong lời chứng cho Ta; đứng lên, nói thay mặt Ta, và không sợ những gì người khác có thể nói. Hãy tập trung vào việc thỏa mãn các ý định của Ta và đừng để bị kiểm soát bởi bất kỳ ai. Ta tiết lộ ý muốn của Ta, ngươi phải làm theo không được chậm trễ. Trong lòng ngươi cảm thấy gì? Liệu khó khó chịu không? Ngươi sẽ là người hiểu rõ. Tại sao không thể đứng lên nói giúp Ta, quan tâm tới gánh nặng của Ta? Những toan tính nhỏ nhặt của ngươi, Ta đều nhìn thấy rõ. Ta là hậu thuẫn của ngươi, là lá chắn của ngươi, mọi thứ đều nằm trong tay Ta, ngươi còn sợ nỗi gì? Chẳng phải vì tình cảm sâu nặng sao? Ngươi phải mau chóng gạt bỏ cảm xúc sang một bên. Ta không để tâm đến tình cảm và Ta thực thi công chính. Nếu cha mẹ ngươi làm bất cứ việc gì không ích lợi cho hội thánh, thì họ cũng không thoát được. Ý muốn của Ta tiết lộ cho ngươi, ngươi không được phớt lờ. Ngươi phải hết sức coi trọng, gạt hết mọi thứ sang một bên để hết lòng làm theo. Ta sẽ luôn bảo vệ ngươi trong vòng tay. Đừng bao giờ e sợ sự kiểm soát của chồng hoặc vợ; ngươi hãy thực hiện ý muốn của Ta.

Thứ Hai, 6 tháng 4, 2020

Chương 104

Tất cả con người, sự vật và sự việc bên ngoài Ta đều sẽ biến mất vào hư không, trong khi tất cả con người, sự vật và sự việc bên trong Ta sẽ có được mọi thứ từ Ta và bước vào sự vinh hiển với Ta, bước lên Núi Si-ôn của Ta, nơi Ta ngự, và cùng tồn tại đời đời với Ta. Từ thuở sơ khai, Ta đã tạo nên muôn vật và sau cùng sẽ hoàn tất công tác của Ta, và Ta cũng sẽ cai trị đời đời với tư cách là một vị Vua. Trong giai đoạn giữa, Ta cũng dẫn dắt và điều khiển toàn thể vũ trụ. Không ai có thể lấy đi thẩm quyền của Ta, bởi Ta là chính Đức Chúa Trời duy nhất, và Ta cũng có quyền năng truyền thẩm quyền của Ta cho các con trai đầu lòng của Ta, hầu cho các con trai đầu lòng của Ta có thể trị vì cạnh Ta. Điều này tồn tại cho đến đời đời và không bao giờ có thể thay đổi. Đây là sắc lệnh quản trị của Ta. (Bất kỳ chỗ nào Ta nói đến sắc lệnh quản trị của Ta thì Ta đều đang ám chỉ những gì xảy ra trong vương quốc của Ta, và những gì sẽ tồn tại cho đến đời đời và không bao giờ có thể thay đổi.) Mọi người đều phải một lòng một dạ tin chắc, và phải nhìn thấy quyền năng vĩ đại của Ta trong những người Ta yêu thương. Không ai có thể làm hổ danh Ta - tất cả các ngươi phải ra hết khỏi đây! Không phải Ta nhẫn tâm, mà là ngươi bất chính. Nếu ngươi xúc phạm sự trừng phạt của Ta thì Ta sẽ xử lý ngươi và cho ngươi chết đời đời. (Tất nhiên, hết thảy điều này nhắm vào những kẻ không phải các con trai đầu lòng của Ta.) Nhà của Ta không muốn thứ rác rưởi như thế, vì thế hãy nhanh chóng ra khỏi đây! Đừng chậm trễ một phút hay thậm chí một giây nào! Ngươi phải làm những điều Ta phán, nếu không Ta sẽ hủy diệt ngươi bằng một lời. Tốt hơn ngươi đừng do dự nữa, tốt hơn ngươi đừng lừa dối nữa. Những kẻ dựng chuyện vô lý trước mặt Ta, những kẻ nói dối trước mặt Ta - hãy nhanh chóng cút đi! Thời gian của Ta có hạn cho những điều như thế. (Khi đến giờ phục vụ thì họ sẽ phục vụ, và khi đến giờ đi thì họ sẽ đi. Ta làm mọi việc với sự khôn ngoan, chính xác đến từng phút, từng giây, không trật chút nào. Hết thảy đều công chính và hoàn toàn chính xác.) Nhưng đối với các con trai đầu lòng của Ta, thì Ta vô cùng khoan dung và mãi mãi yêu thương đến cùng, làm cho các ngươi mãi mãi vui hưởng các phước lành và sự sống đời đời với Ta, và trong thời gian đó không bao giờ phải chịu đựng những trở ngại hay phán xét nào. (Điều này ám chỉ đến thời điểm ngươi bắt đầu hưởng phước.) Đây là phước lành vô tận và lời hứa cho các con trai đầu lòng của Ta khi Ta sáng thế. Các ngươi nên thấy được sự công chính của Ta trong đó - Ta yêu những người mà Ta đã định trước, ghét những kẻ mà Ta đã từ bỏ và loại bỏ cho đến đời đời.

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2020

Con người chỉ có thể được cứu rỗi giữa sự quản lý của Đức Chúa Trời

Trong mắt mọi người, sự quản lý của Đức Chúa Trời là điều gì đó rất không quen thuộc, bởi vì người ta nghĩ đến sự quản lý của Ngài như là điều hoàn toàn xa lạ với họ. Người ta nghĩ rằng việc quản lý của Đức Chúa Trời chỉ là công tác của riêng Ngài, và rằng nó chỉ liên quan đến Ngài - và như thế nhân loại cứ dửng dưng với sự quản lý của Ngài. Theo cách này, sự cứu rỗi nhân loại đã trở nên mơ hồ và không rõ nét, và bây giờ thì chẳng hơn gì lời hùng biện rỗng tuếch. Mặc dù con người theo Chúa nhằm nhận lãnh sự cứu rỗi và bước vào đích đến diệu kỳ, nhưng họ chẳng hề quan tâm đến việc Đức Chúa Trời thực hiện công tác của Ngài bằng cách nào. Con người chẳng quan tâm đến những gì Chúa đã hoạch định, cũng chẳng quan tâm đến việc họ phải đóng vai trò nào để được cứu. Điều này quả thật là bi kịch. Sự cứu rỗi con người không thể tách rời khỏi sự quản lý của Đức Chúa Trời, cũng chẳng phân ly khỏi kế hoạch của Ngài. Thế mà con người chẳng nghĩ gì đến sự quản lý của Chúa, và như thế càng xa cách với Ngài hơn bao giờ hết. Điều này khiến ngày càng nhiều người hoàn toàn không hay biết về những vấn đề cơ bản liên quan đến câu hỏi về sự cứu rỗi - như là tạo hóa là gì, niềm tin nơi Chúa là gì, thờ phượng Chúa ra sao, vân vân - để gia nhập hàng ngũ những người theo Ngài. Vì thế, bây giờ chúng ta phải bàn bạc về sự quản lý của Đức Chúa Trời, hầu cho mỗi một người trong số người theo Ngài đều hiểu rõ việc theo Ngài và tin ở Ngài nghĩa là gì. Làm như thế sẽ giúp mỗi người lựa chọn được chính xác hơn con đường họ nên đi, hơn là theo Chúa chỉ đơn thuần để nhận lãnh ân phước, hoặc tránh tai họa, hay để được nổi bật giữa những người khác.

Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2020

Nhân loại bại hoại càng cần hơn sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời nhập thể

Đức Chúa Trời trở nên xác thịt bởi vì đối tượng công tác của Ngài không phải là linh hồn của Sa-tan, hoặc bất kỳ vật vô hình nào, mà là con người, của xác thịt và đã bị làm bại hoại bởi Sa-tan. Chính xác là vì xác thịt của con người đã bị làm cho bại hoại nên Đức Chúa Trời đã lấy con người xác thịt làm đối tượng công tác của Ngài; hơn nữa, bởi vì con người là đối tượng của sự bại hoại, nên Ngài đã lấy con người làmđối tượng công tác duy nhất của Ngài xuyên suốt tất cả các giai đoạn trong công tác cứu rỗi của Ngài. Con người là phàm nhân, của thịt và huyết, và Đức Chúa Trời là Đấng duy nhất có thể cứu rỗi con người. Bằng cách này, Đức Chúa Trời phải trở nên một xác thịt sở hữu những thuộc tính giống như con người để thực hiện công tác của Ngài, để cho công tác của Ngài có để đạt hiệu quả tốt hơn. Đức Chúa Trời phải trở nên xác thịt để làm công tác của Ngài chính xác vì con người là thuộc xác thịt, và không có khả năng chiến thắng tội lỗi hoặc tháo gỡ bản thân khỏi xác thịt. Mặc dù thực chất và đặc tính của Đức Chúa Trời nhập thể khác biệt rất nhiều so với thực chất và đặc tính của con người, nhưng vẻ bề ngoài của Ngài thì giống hệt với vẻ bề ngoài của con người, Ngài có vẻ bề ngoài của một người bình thường, và sống đời sống của một người bình thường, và những ai gặp Ngài không thể nhận ra sự khác biệt với một người bình thường. Vẻ bề ngoài bình thường và nhân tính bình thường này đủ để Ngài thực hiện công tác thần thánh trong nhân tính bình thường. Xác thịt của Ngài cho phép Ngài thực hiện công tác trong nhân tính bình thường, và giúp Ngài thực hiện công tác giữa con người, và nhân tính bình thường của Ngài, hơn nữa, giúp Ngài tiến hành công tác cứu rỗi giữa con người. Mặc dù nhân tính bình thường của Ngài đã gây nhiều xáo động giữa con người, nhưng sự xáo động như thế không ảnh hưởng đến những hiệu quả bình thường trong công tác của Ngài. Nói tóm lại, công tác trong xác thịt bình thường của Ngài vô cùng có lợi cho con người. Mặc dù phần lớn mọi người không chấp nhận nhân tính bình thường của Ngài, nhưng công tác của Ngài vẫn có thể có hiệu quả, và những hiệu quả này đạt được nhờ vào nhân tính bình thường của Ngài. Không nghi ngờ gì về điều này. Từ công tác của Ngài trong xác thịt, con người thu được nhiều thứ hơn gấp mười lần hoặc hàng chục lần những quan niệm tồn tại giữa con người về nhân tính bình thường của Ngài, và tất cả những quan niệm như thế cuối cùng đều sẽ bị nuốt chửng bởi công tác của Ngài. Và hiệu quả mà công tác của Ngài đã đạt được, có nghĩa là, sự hiểu biết mà con người có về Ngài, vượt xa những quan niệm của con người về Ngài. Không có cách nào để tưởng tượng hoặc đo lường công tác mà Ngài thực hiện trong xác thịt, bởi xác thịt của Ngài không giống như của bất kỳ con người xác thịt nào; mặc dù lớp vỏ bề ngoài thì giống hệt nhau, nhưng thực chất thì không giống nhau. Xác thịt của Ngài tạo ra nhiều quan niệm giữa con người về Đức Chúa Trời, nhưng xác thịt của Ngài cũng có thể cho phép con người có được nhiều sự hiểu biết, và thậm chí còn có thể chinh phục bất kỳ con người nào sở hữu lớp vỏ bề ngoài tương tự. Bởi Ngài không chỉ đơn thuần là một con người, mà còn là Đức Chúa Trời với lớp vỏ bề ngoài của một con người, và không ai hoàn toàn có thể dò lường hoặc hiểu được Ngài. Một Đức Chúa Trời không thể thấy được và vô hình được mọi người yêu mến và chào đón. Nếu Chúa chỉ là một Thần vô hình đối với con người, thì quá dễ dàng để con người tin vào Chúa. Con người có thể tự do tưởng tượng, có thể chọn bất kỳ hình ảnh nào họ muốn làm hình tượng của Chúa để làm hài lòng chính mình và khiến mình cảm thấy vui. Bằng cách này, con người có thể làm bất kỳ điều gì mà Đức Chúa Trời của bản thân họ thích và muốn họ làm nhất, mà không có bất kỳ sự đắn đo nào. Còn nữa, con người tin rằng không ai trung thành và sùng đạo hơn họ đối với Chúa, và rằng tất cả những kẻ khác là những con chó ngoại lai và bất trung với Chúa. Có thể nói rằng đây là điều được tìm kiếm bởi những ai có niềm tin nơi Đức Chúa Trời mơ hồ và dựa trên giáo lý; những gì họ tìm kiếm đều giống nhau, rất ít sự khác biệt. Đơn thuần là những hình ảnh về Đức Chúa Trời trong trí tưởng tượng của họ thì khác nhau, nhưng thực chất của chúng thực sự đều như nhau.

Thứ Năm, 19 tháng 3, 2020

Ngươi đứng ở đâu trong mười ba thư tín?

Tân Ước của Kinh Thánh chứa mười ba thư tín của Phao-lô. Trong suốt thời gian làm công tác, Phao-lô đã viết mười ba thư này cho các hội thánh thờ phượng Jêsus Christ. Nghĩa là, Phao-lô được cất lên và viết những thư này sau khi Jêsus thăng thiên. Các thư của ông là những chứng ngôn về sự phục sinh và thăng thiên của Đức Chúa Jêsus sau sự chết của Ngài, và chúng cũng loan báo cách thức ăn năn và chịu đựng sự thống khổ. Dĩ nhiên, tất cả những thông điệp và chứng ngôn này nhằm để dạy các anh chị em ở những nơi khác nhau quanh Giu-đa vào thời đó, bởi khi ấy, Phao-lô là tôi tớ của Đức Chúa Jêsus, và ông đã được cất lên để làm chứng cho Đức Chúa Jêsus. Trong mỗi khoảng thời gian của công tác của Đức Thánh Linh, nhiều người khác nhau đã được cất lên để thực hiện những công tác khác nhau của Ngài, nghĩa là, làm công tác của các sứ đồ nhằm tiếp tục công tác mà Đức Chúa Trời hoàn thành tự thân Ngài. Nếu Đức Thánh Linh đã làm việc ấy cách trực tiếp, và không ai được cất lên, thì sẽ rất khó để công tác được thực hiện. Như thế, Phao-lô đã trở thành người bị ngã trên đường đến Đa-mách, và người sau đó đã được cất lên để làm chứng nhân cho Đức Chúa Jêsus. Ông là một sứ đồ bên cạnh mười hai môn đồ của Jêsus. Ngoài loan báo phúc âm, ông cũng đảm nhiệm công tác chăn dắt các hội thánh ở những nơi khác nhau và điều này liên quan đến việc coi sóc các anh chị em của hội thánh – nói cách khác là dẫn dắt các anh chị em trong Chúa. Chứng ngôn của Phao-lô là để cho biết về sự kiện phục sinh và thăng thiên của Đức Chúa Jêsus, cũng như dạy mọi người ăn năn, xưng tội, và đi theo con đường thập tự giá. Ông là một trong những chứng nhân của Jêsus Christ vào thời đó.