Hiển thị các bài đăng có nhãn tin Chúa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tin Chúa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2020

5. Đức tin nơi Đức Chúa Trời không nên chỉ là tìm kiếm sự bình an và các phước lành.

Lời Chúa có liên quan:
Con người đã đạt được gì từ lúc bắt đầu tin Đức Chúa Trời? Ngươi đã biết được gì về Chúa? Ngươi đã thay đổi được bao nhiêu nhờ đức tin của mình nơi Chúa? Hiện nay, tất cả các ngươi đều biết rằng đức tin của con người nơi Đức Chúa Trời không chỉ dành cho sự cứu rỗi của linh hồn và hạnh phúc về thể xác, hay đức tin đó cũng không làm cho cuộc sống của con người phong phú qua tình yêu của Đức Chúa Trời, v.v. Với hiện trạng này, nếu ngươi yêu Chúa để có được hạnh phúc về thể xác hay thú vui tạm thời, thì cuối cùng, ngay cả khi lòng yêu mến Chúa của ngươi đạt đến mức cực đỉnh và ngươi không đòi hỏi gì nữa, thì tình yêu ngươi tìm kiếm vẫn là thứ tình yêu giả tạo và không làm đẹp lòng Đức Chúa Trời. Những ai dùng tình yêu dành cho Chúa để làm phong phú sự tồn tại nhàm chán của họ, và để lấp đầy khoảng trống trong tấm lòng của họ, thì đó là kiểu người tham muốn một cuộc sống dễ dàng, chứ không phải là người thật sự cố gắng yêu Chúa. Thứ tình yêu này bị ép buộc, tìm kiếm sự hài lòng về tinh thần và Đức Chúa Trời không cần loại tình yêu này. Vậy, tình yêu của ngươi là loại tình yêu nào? Ngươi yêu kính Chúa vì điều gì? Tình yêu đích thực dành cho Chúa hiện đang có trong ngươi được bao nhiêu? Tình yêu của đa số các ngươi là loại tình yêu vừa được nhắc đến trên đây. Loại tình yêu này chỉ có thể duy trì hiện trạng chứ không đạt đến trạng thái bất biến hay bén rễ trong con người. Loại tình yêu này chỉ giống như một bông hoa nở rồi tàn mà không hề kết trái. Nói một cách khác, nếu ngươi đã từng yêu Chúa theo cách này, và nếu không có người dẫn dắt ngươi trên con đường phía trước, thì ngươi sẽ gục ngã. Nếu ngươi chỉ có thể yêu Chúa trong những lúc yêu mến Chúa, nhưng sau đó đời sống ngươi vẫn không thay đổi, thì ngươi sẽ không thể thoát khỏi ảnh hưởng của sự tối tăm, ngươi sẽ không thể giải thoát khỏi xiếng xích của Sa-tan và mưu mô của hắn. Không ai trong tình trạng như vậy lại hoàn toàn thuộc về Chúa; cuối cùng, tâm thần, linh hồn và thể xác của họ vẫn thuộc về Sa-tan. Không có gì nghi ngờ về điều này. Những ai không hoàn toàn thuộc về Chúa sẽ trở về nơi ban đầu, tức là trở về với Sa-tan, và họ sẽ đi xuống hồ lửa với diêm sinh để chấp nhận hình phạt tiếp theo từ Chúa. Những người đã thuộc về Chúa là những người đã từ bỏ Sa-tan và thoát khỏi lãnh thổ của hắn. Họ chính thức được tính trong số những dân sự của vương quốc. Đây là cách mà dân sự của vương quốc sẽ trở thành.
Trích từ “Quan điểm các tín đồ cần có” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2020

Con người chỉ có thể được cứu rỗi giữa sự quản lý của Đức Chúa Trời

Trong mắt mọi người, sự quản lý của Đức Chúa Trời là điều gì đó rất không quen thuộc, bởi vì người ta nghĩ đến sự quản lý của Ngài như là điều hoàn toàn xa lạ với họ. Người ta nghĩ rằng việc quản lý của Đức Chúa Trời chỉ là công tác của riêng Ngài, và rằng nó chỉ liên quan đến Ngài - và như thế nhân loại cứ dửng dưng với sự quản lý của Ngài. Theo cách này, sự cứu rỗi nhân loại đã trở nên mơ hồ và không rõ nét, và bây giờ thì chẳng hơn gì lời hùng biện rỗng tuếch. Mặc dù con người theo Chúa nhằm nhận lãnh sự cứu rỗi và bước vào đích đến diệu kỳ, nhưng họ chẳng hề quan tâm đến việc Đức Chúa Trời thực hiện công tác của Ngài bằng cách nào. Con người chẳng quan tâm đến những gì Chúa đã hoạch định, cũng chẳng quan tâm đến việc họ phải đóng vai trò nào để được cứu. Điều này quả thật là bi kịch. Sự cứu rỗi con người không thể tách rời khỏi sự quản lý của Đức Chúa Trời, cũng chẳng phân ly khỏi kế hoạch của Ngài. Thế mà con người chẳng nghĩ gì đến sự quản lý của Chúa, và như thế càng xa cách với Ngài hơn bao giờ hết. Điều này khiến ngày càng nhiều người hoàn toàn không hay biết về những vấn đề cơ bản liên quan đến câu hỏi về sự cứu rỗi - như là tạo hóa là gì, niềm tin nơi Chúa là gì, thờ phượng Chúa ra sao, vân vân - để gia nhập hàng ngũ những người theo Ngài. Vì thế, bây giờ chúng ta phải bàn bạc về sự quản lý của Đức Chúa Trời, hầu cho mỗi một người trong số người theo Ngài đều hiểu rõ việc theo Ngài và tin ở Ngài nghĩa là gì. Làm như thế sẽ giúp mỗi người lựa chọn được chính xác hơn con đường họ nên đi, hơn là theo Chúa chỉ đơn thuần để nhận lãnh ân phước, hoặc tránh tai họa, hay để được nổi bật giữa những người khác.

Thứ Ba, 31 tháng 3, 2020

Tuyển chọn từ bốn phân đoạn trong Lời Chúa về “Lẽ mầu nhiệm của sự nhập thể”

1. Trong Thời đại Ân điển, Giăng đã dọn đường cho Jêsus. Ông đã không thể làm công tác của chính Đức Chúa Trời mà chỉ đơn thuần là hoàn thành nghĩa vụ của con người. Mặc dù Giăng là đấng tiên phong của Chúa, nhưng ông không thể đại diện cho Đức Chúa Trời; ông chỉ là một con người được Đức Thánh Linh sử dụng mà thôi. Sau phép báp-têm của Jêsus, Đức Thánh Linh đã ngự xuống trên Ngài như hình chim bồ câu. Sau đó, Ngài đã bắt đầu công tác của mình, nghĩa là Ngài đã bắt đầu thực hiện chức vụ của Đấng Christ. Đó là lý do Ngài mang danh tính của Đức Chúa Trời, vì Ngài đã đến từ Đức Chúa Trời. Bất kể đức tin của Ngài ra sao trước sự kiện này - đôi khi đức tin ấy có thể đã yếu đuối, hoặc đôi khi nó mạnh mẽ - tất cả đều thuộc về cuộc đời con người bình thường mà Ngài đã sống trước khi thực hiện chức vụ của mình. Sau khi Ngài đã chịu báp-têm (nghĩa là đã được xức dầu), quyền năng và sự vinh hiển của Đức Chúa Trời ngay lập tức ở cùng Ngài, và như thế Ngài đã bắt đầu thực hiện chức vụ của mình. Ngài có thể làm những dấu kỳ sự lạ, thực hiện những phép mầu, Ngài có quyền năng và thẩm quyền, vì Ngài đang trực tiếp hành động nhân danh chính Đức Chúa Trời; Ngài đang làm công tác thay mặt cho Thần và đang bày tỏ tiếng phán của Thần. Vì vậy, Ngài chính là Đức Chúa Trời; điều này là không thể bàn cãi. Giăng đã được Đức Thánh Linh sử dụng. Ông không thể đại diện cho Đức Chúa Trời, ông cũng không có khả năng đại diện cho Đức Chúa Trời. Nếu ông có muốn làm như vậy, thì Đức Thánh Linh hẳn cũng đã không cho phép điều đó, vì ông không thể làm công tác mà chính Đức Chúa Trời dự định hoàn thành. Có lẽ phần nhiều trong ông là ý muốn của con người, hay thứ gì đó lệch lạc; chẳng có tình huống nào mà ông có thể trực tiếp đại diện cho Đức Chúa Trời. Những lỗi lầm và sai lầm của ông chỉ đại diện cho bản thân ông, nhưng công tác của ông là đại diện của Đức Thánh Linh. Tuy nhiên, ngươi không thể nói rằng mọi thứ của ông đều đại diện cho Đức Chúa Trời. Có thể nào sự lệch lạc và sai lầm của ông cũng đại diện cho Đức Chúa Trời sao? Sai sót trong việc đại diện cho con người là điều bình thường, nhưng nếu một người lệch lạc trong việc đại diện cho Đức Chúa Trời, thì chẳng phải đó sẽ là một sự sỉ nhục đối với Đức Chúa Trời sao? Chẳng phải đó sẽ là sự phạm thượng đối với Đức Thánh Linh sao? Đức Thánh Linh không dễ dàng cho phép con người thay thế cho Đức Chúa Trời, ngay cả khi họ được những người khác tôn cao. Nếu họ không phải là Đức Chúa Trời, thì cuối cùng họ sẽ không thể đứng vững. Đức Thánh Linh không cho phép con người đại diện cho Đức Chúa Trời như con người muốn! Chẳng hạn, chính Đức Thánh Linh đã làm chứng cho Giăng và cũng chính Đức Thánh Linh đã mặc khải Giăng sẽ là người dọn đường cho Jêsus, nhưng công tác Đức Thánh Linh thực hiện trên ông đã được cân nhắc kỹ càng. Tất cả những gì Giăng được yêu cầu là trở thành người dọn đường cho Jêsus, để chuẩn bị lối cho Ngài. Điều đó có nghĩa là, Đức Thánh Linh đã chỉ ủng hộ công việc dọn đường của ông và chỉ cho phép ông làm công việc đó mà thôi - ông không được phép làm điều gì khác. Giăng đại diện cho Ê-li, và ông đại diện cho một nhà tiên tri đã mở đường. Đức Thánh Linh đã ủng hộ ông làm điều này; miễn là công việc của ông là mở đường, thì Đức Thánh Linh ủng hộ ông. Tuy nhiên, nếu ông đã tuyên bố mình chính là Đức Chúa Trời và nói rằng ông đã đến để hoàn thành công tác cứu chuộc, thì Đức Thánh Linh hẳn đã phải sửa dạy ông. Cho dù công tác của Giăng vĩ đại đến đâu, và mặc dù nó đã được Đức Thánh Linh ủng hộ, nhưng công tác của ông không phải không có những ranh giới. Dù đúng là Đức Thánh Linh thực sự đã ủng hộ công tác của ông, nhưng quyền năng ban cho ông vào thời điểm đó chỉ giới hạn trong việc dọn đường mà thôi. Ông không thể làm bất kỳ công tác nào khác, vì ông chỉ là Giăng, người dọn đường, chứ không phải là Jêsus. Do đó, lời chứng của Đức Thánh Linh là mấu chốt, nhưng công tác mà Đức Thánh Linh cho phép con người thực hiện thậm chí còn quan trọng hơn. Chẳng phải lúc đó Giăng đã nhận được lời chứng vang dội sao? Chẳng phải công tác của ông cũng đã rất vĩ đại sao? Nhưng công tác ông đã làm không thể vượt qua công tác của Jêsus, vì ông không hơn gì một con người được Đức Thánh Linh sử dụng và không thể trực tiếp đại diện cho Đức Chúa Trời, và vì vậy công việc ông làm bị hạn chế. Sau khi ông đã hoàn thành công tác dọn đường, không có ai ủng hộ lời chứng của ông, không có công tác mới nào theo sau ông, và ông đã rời đi khi công tác của chính Đức Chúa Trời bắt đầu.
Trích từ “Lẽ mầu nhiệm của sự nhập thể (1)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Thứ Năm, 26 tháng 3, 2020

🎀“Lời Chúa mỗi ngày”🎀

Đức Chúa Trời phán: “Là một người tin Chúa, ngươi càng cầu nguyện bao nhiêu, thì ngươi càng được Chúa chạm đến bấy nhiêu. Những người như thế có quyết tâm lớn hơn và có nhiều khả năng nhận được sự khai sáng mới nhất từ Chúa hơn; kết quả là, chỉ những người như thế mới có thể được Đức Thánh Linh khiến trở nên hoàn hảo sớm nhất có thể”.

Thứ Bảy, 14 tháng 3, 2020

Đức Chúa Trời đã xuất hiện ở phương Đông

Bởi Qiu Zhen, Trung Quốc
Một ngày kia, em gái tôi gọi cho tôi và nói rằng đã từ miền Bắc trở về và có chuyện quan trọng muốn nói với tôi. Em bảo tôi đến ngay lập tức. Tôi có cảm giác rằng đã có chuyện xấu xảy ra, do đó tôi đi đến thẳng đến nhà em. Chỉ khi đến chỗ em rồi và nhìn thấy em đang đọc sách thì tôi mới hết bồn chồn. Em gái thấy tôi đi vào thì nhảy cẫng lên và hồ hởi nói, “Chị Qiu Zhen! Lần này ở miền Bắc em đã nghe được một tin rất vui: Đức Chúa Jêsus đã trở lại!”

Thứ Tư, 11 tháng 3, 2020

Thành công hay thất bại phụ thuộc vào con đường mà con người đi

Hầu hết mọi người tin vào Đức Chúa Trời là vì đích đến trong tương lai của họ, hoặc vì sự hưởng thụ tạm thời. Đối với những ai chưa trải qua bất kỳ sự xử lý nào, niềm tin vào Đức Chúa Trời là để bước vào thiên đàng, để được phần thưởng. Nó không phải để được làm cho hoàn thiện, hoặc để thực hiện bổn phận một loài thọ tạo của Đức Chúa Trời. Điều đó có nghĩa là hầu hết mọi người tin vào Đức Chúa Trời không phải để hoàn thành trách nhiệm của họ, hoặc để hoàn tất bổn phận của họ. Hiếm khi người ta tin vào Đức Chúa Trời để sống cuộc đời có ý nghĩa, cũng không có ai tin rằng vì con người còn sống, họ nên yêu mến Đức Chúa Trời vì làm như vậy là luật pháp của Thiên đàng và nguyên tắc của trần gian, và là thiên hướng tự nhiên của con người. Theo cách này, mặc dù từng người khác nhau theo đuổi mục tiêu của riêng mình, nhưng mục đích theo đuổi của họ và động lực đằng sau nó đều giống nhau, và hơn nữa, đối với hầu hết bọn họ, các đối tượng thờ phượng của họ rất giống nhau. Trong vài nghìn năm qua, nhiều tín hữu đã chết, và nhiều người đã chết và được tái sinh. Không chỉ một hoặc hai người tìm kiếm Đức Chúa Trời, thậm chí không phải một hoặc hai nghìn người, mà việc theo đuổi của hầu hết những người này đều là vì tiền đồ của riêng họ hoặc những hy vọng vinh quang của họ cho tương lai. Những người tận hiến cho Đấng Christ là rất hiếm. Nhiều tín hữu sùng đạo đã vẫn bị bẫy chết trong lưới của chính mình, và hơn nữa, số người đã chiến thắng còn rất ít ỏi. Cho đến ngày nay, những lý do khiến mọi người thất bại, hoặc những bí mật cho thắng lợi của họ, vẫn chưa được họ biết đến. Những người bị ám ảnh với việc tìm kiếm Đấng Christ vẫn chưa có được khoảnh khắc sáng suốt thình lình, họ vẫn chưa đi đến tận cùng của những lẽ mầu nhiệm này, vì đơn giản là họ không biết. Mặc dù họ nỗ lực khó nhọc trong việc theo đuổi của mình, nhưng con đường họ đi là con đường của thất bại mà cha ông của họ đã từng đi, chứ không phải là một con đường của thành công. Theo cách này, bất kể họ tìm kiếm như thế nào, chẳng phải họ đi trên con đường dẫn đến sự tối tăm sao? Chẳng phải những gì họ đạt được là trái đắng sao? Thật đủ khó để dự đoán liệu những người tranh đua với những người đã thành công trong quá khứ cuối cùng sẽ gặp vận may hay tai họa. Vậy thì, tỷ lệ đối với những người tìm kiếm bằng cách đi theo vết chân của những người đã thất bại còn tệ hơn bao nhiêu nữa? Chẳng phải họ thậm chí còn có cơ hội thất bại lớn hơn sao? Con đường họ đi có giá trị gì? Chẳng phải họ đang lãng phí thời gian của mình sao? Bất kể mọi người thành công hay thất bại trong việc theo đuổi của mình, nói tóm lại, có một nguyên nhân khiến họ làm như vậy, và sự thành công hay thất bại của họ không phải được quyết định bằng việc tìm kiếm theo cách họ muốn.

Thứ Ba, 10 tháng 3, 2020

Những ai yêu mến Đức Chúa Trời sẽ sống đời đời trong sự sáng của Ngài

Hội Thánh Đức Chúa Trời Toàn Năng | Đức Chúa Trời phán:″Những ai yêu mến Đức Chúa Trời sẽ sống đời đời trong sự sáng của Ngài″
Thực chất của niềm tin nơi Đức Chúa Trời của hầu hết mọi người chính là tín ngưỡng: Họ không thể yêu mến Đức Chúa Trời, và chỉ có thể đi theo Đức Chúa Trời như một người máy, không thể thực sự khao khát Đức Chúa Trời hay tôn thờ Ngài. Họ chỉ đơn thuần lặng lẽ đi theo Ngài. Nhiều người tin Đức Chúa Trời, nhưng có rất ít người yêu mến Đức Chúa Trời; họ chỉ “kính sợ” Đức Chúa Trời bởi vì họ sợ thảm họa, hoặc nếu không thì họ “cảm phục” Đức Chúa Trời bởi vì Ngài cao cả và đầy quyền năng - nhưng trong sự kính sợ và cảm phục của họ lại không có tình yêu hay sự khao khát thực sự. Trong những sự trải nghiệm của mình, họ tìm kiếm những điều vụn vặt của lẽ thật, hoặc nếu không thì một vài điều kín nhiệm không quan trọng. Hầu hết mọi người chỉ đơn thuần đi theo, họ thả câu trong những vùng nước đục chỉ để nhận được các phước lành; họ không tìm kiếm lẽ thật, họ cũng không thực sự vâng lời Đức Chúa Trời hầu cho nhận được các phước lành của Đức Chúa Trời. Đời sống đức tin nơi Đức Chúa Trời của tất cả mọi người là vô nghĩa, nó không có giá trị, và trong nó là những sự suy tính và theo đuổi mang tính cá nhân; họ không tin Đức Chúa Trời để yêu mến Đức Chúa Trời, nhưng là vì để được ban phước. Nhiều người hành động tùy ý, làm bất kỳ điều gì họ muốn, và không bao giờ xem xét đến những sự quan tâm của Đức Chúa Trời, hoặc là điều họ làm có phù hợp với ý muốn của Đức Chúa Trời hay không. Những người như thế thậm chí không thể đạt được niềm tin thực sự, chứ đừng nói đến tình yêu dành cho Đức Chúa Trời. Bản thể của Đức Chúa Trời không chỉ để cho con người tin, hơn nữa, là để cho con người yêu mến. Nhưng nhiều người trong số những người tin Đức Chúa Trời không thể khám phá ra “bí mật” này. Con người không dám yêu mến Đức Chúa Trời, họ cũng không cố gắng yêu mến Ngài. Họ chưa bao giờ khám phá ra rằng có rất nhiều điều đáng yêu kính về Đức Chúa Trời, họ chưa bao giờ khám phá ra rằng Đức Chúa Trời là Đấng yêu thương con người, và Ngài là Đức Chúa Trời để con người yêu mến. Điều đáng yêu kính của Đức Chúa Trời được bày tỏ trong công việc của Ngài: Chỉ khi con người trải nghiệm được công tác của Ngài họ mới có thể khám phá được điều đáng yêu kính của Ngài, chỉ trong những sự trải nghiệm thực tế họ mới có thể nhận thức được điều đáng yêu kính của Đức Chúa Trời, và khi không quan sát điều đó trong đời sống thực tế, không ai có thể khám phá ra điều đáng yêu kính của Đức Chúa Trời. Có rất nhiều điều về Đức Chúa Trời để yêu, nhưng khi không thực sự gắn bó với Ngài thì con người không thể khám phá được điều đó. Điều đó có nghĩa là, nếu Đức Chúa Trời không trở nên xác thịt, con người không thể gắn bó thực sự với Ngài, và nếu họ không thể gắn bó thực sự với Ngài, họ cũng sẽ không thể trải nghiệm được công tác của Ngài - và vì thế tình yêu họ dành cho Đức Chúa Trời sẽ bị vấy bẩn bởi nhiều sự giả dối và tưởng tượng. Tình yêu thương dành cho Đức Chúa Trời ở trên trời thì không thật như tình yêu dành cho Đức Chúa Trời ở dưới đất, vì sự hiểu biết của con người về Đức Chúa Trời ở trên trời được xây dựng trên trí tưởng tượng của họ, thay vì dựa trên những điều họ tận mắt nhìn thấy, và điều họ đã tự trải nghiệm. Khi Đức Chúa Trời đến thế gian, con người có thể thấy những việc làm thực tế và những điều đáng yêu kính của Ngài, và họ có thể nhìn thấy mọi điều trong tâm tính thực tiễn và bình thường của Ngài, tất cả những gì thực tế hơn hàng ngàn lần so với sự hiểu biết về Đức Chúa Trời ở trên trời. Bất kể con người có yêu mến Đức Chúa Trời ở trên trời nhiều bao nhiêu, không có gì thật về tình yêu này cả, và nó đầy dẫy những ý tưởng của con người. Cho dù tình yêu họ dành cho Đức Chúa Trời ở dưới đất có ít ỏi đến mức nào, nó vẫn là tình yêu thật; ngay cả khi chỉ có một chút thôi, nó vẫn là thật. Đức Chúa Trời khiến con người biết đến Ngài qua công tác thật của Ngài, và qua sự hiểu biết này Ngài có được tình yêu của họ. Giống như Phi-e-rơ: Nếu ông không từng sống với Jêsus, thì ông không thể cảm phục Jêsus . Vì thế, lòng trung thành của ông đối với Jêsus cũng được xây dựng trên sự gắn bó của ông với Jêsus. Để làm cho con người yêu mến Ngài, Đức Chúa Trời đã đến giữa con người và sống cùng với họ, và tất cả những gì Ngài làm con người nhìn thấy và trải nghiệm chính là sự thực hữu của Đức Chúa Trời.

Thứ Hai, 9 tháng 3, 2020

Chỉ có yêu mến Đức Chúa Trời mới là thật sự tin nơi Đức Chúa Trời

Hôm nay, khi các ngươi nỗ lực để yêu mến và biết đến Đức Chúa Trời, trong một khía cạnh các ngươi phải chịu đựng gian khổ và sự tinh luyện, và trong một khía cạnh khác, các ngươi phải trả một giá nào đó. Không có bài học nào thâm thúy hơn bài học yêu mến Đức Chúa Trời, và có thể nói rằng bài học người ta học từ cả một đời đức tin là cách để yêu mến Đức Chúa Trời. Nghĩa là, nếu ngươi tin nơi Chúa thì ngươi phải yêu mến Chúa. Nếu ngươi chỉ tin Đức Chúa Trời nhưng không yêu mến Ngài, chưa đạt được sự hiểu biết về Chúa, và chưa bao giờ yêu mến Chúa bằng tình yêu thật phát xuất từ trong lòng ngươi, thì đức tin của ngươi nơi Đức Chúa Trời là vô ích; nếu trong đức tin của ngươi nơi Chúa, ngươi không yêu mến Chúa, thì ngươi sống hoài công vô ích, và cả đời ngươi là cuộc đời hèn mọn nhất trong hết thảy các cuộc đời. Nếu suốt cả đời ngươi chưa bao giờ yêu mến hay làm hài lòng Đức Chúa Trời, vậy mục đích của cuộc sống ngươi là gì? Và mục đích của đức tin của ngươi nơi Đức Chúa Trời là gì? Chẳng phải đó là sự lãng phí công sức sao? Nghĩa là, nếu người ta tin và yêu mến Đức Chúa Trời, thì họ phải trả một cái giá nào đó. Thay vì cố hành động một cách nhất định bề ngoài, họ nên tìm kiếm sự thông sáng thật trong thâm tâm của mình. Nếu ngươi say mê việc ca hát và nhảy múa, nhưng không thể đưa lẽ thật vào thực hành, thì có thể nào nói ngươi yêu mến Đức Chúa Trời không? Yêu mến Chúa đòi hỏi sự tìm kiếm ý muốn của Chúa trong mọi sự, và ngươi dò xét sâu thẳm bên trong khi bất cứ điều gì xảy đến với ngươi, cố gắng nắm bắt ý muốn của Chúa, và cố gắng nhận biết ý muốn của Chúa trong vấn đề này, điều Ngài mong muốn ngươi đạt được, và cách ngươi phải lưu tâm đến ý muốn của Ngài. Chẳng hạn như: Việc gì đó xảy ra và đỏi hỏi ngươi phải chịu đựng sự gian khổ, trong thời gian đó ngươi phải hiểu ý muốn Đức Chúa Trời là gì, và cách mà ngươi phải lưu tâm đến ý muốn của Ngài. Ngươi không được chiều lòng chính mình: Trước tiên hãy gạt bản thân mình sang một bên. Không có gì hèn hạ hơn xác thịt. Ngươi phải cố gắng làm đẹp lòng Chúa, và phải làm tròn bổn phận của ngươi. Với những suy nghĩ như thế, Đức Chúa Trời sẽ mang sự khai sáng đặc biệt đến cho ngươi trong vấn đề này, và lòng ngươi cũng sẽ tìm thấy sự an ủi. Dù là chuyện lớn hay chuyện nhỏ, khi việc gì đó xảy ra với ngươi, trước tiên ngươi phải gạt bản thân mình sang một bên và xem xác thịt là hèn mọn nhất trong mọi sự. Ngươi càng thỏa mãn xác thịt, nó càng đòi hỏi quá đáng; nếu ngươi thỏa mãn nó lần này, lần sau nó sẽ đòi hỏi nhiều hơn, và khi việc này tiếp tục, ngươi thậm chí càng trở nên yêu xác thịt nhiều hơn. Xác thịt luôn có những tham muốn quá độ, nó luôn đòi hỏi ngươi phải thỏa mãn nó, đòi hỏi ngươi phải đáp ứng nó bên trong, cho dù đó là trong những thứ ngươi ăn, thứ ngươi mặc hay lúc nổi cơn tam bành, hay nuông chiều các yếu điểm và sự lười biếng của chính mình… Ngươi càng thỏa mãn xác thịt, các tham muốn của nó càng lớn, và xác thịt càng trở nên trụy lạc, cho tới khi nó chạm ngưỡng mà xác thịt của con người ta chứa chấp các ý niệm còn ranh mãnh hơn, và bất tuân Chúa, tự tôn nó lên, và trở nên nghi ngờ công tác của Đức Chúa Trời. Ngươi càng thỏa mãn xác thịt, thì các yếu điểm của xác thịt càng lớn; ngươi sẽ luôn cảm thấy rằng không ai cảm thông các yếu điểm của ngươi, ngươi sẽ luôn tin rằng Đức Chúa Trời đã đi quá xa, và ngươi sẽ nói: “Sao Đức Chúa Trời lại có thể tàn nhẫn như thế? Tại sao Ngài không cho người ta được nghỉ ngơi đôi chút?” Khi người ta quá nuông chiều xác thịt, và yêu chiều nó quá nhiều, thì họ sẽ hủy hoại chính bản thân mình. Nếu ngươi thật sự yêu mến Chúa, và không nuông chiều xác thịt, thì ngươi sẽ thấy mọi sự Đức Chúa Trời làm là rất đúng đắn, và rất tốt lành, và Ngài rủa sả ngươi về sự phản nghịch và phán xét ngươi về sự bất chính của ngươi là chính đáng. Sẽ có những thời điểm Đức Chúa Trời sửa phạt và chỉnh đốn ngươi, và dấy lên một môi trường để tinh luyện ngươi, buộc ngươi phải đến trước Ngài - và ngươi sẽ luôn cảm thấy điều Đức Chúa Trời đang làm là tuyệt vời. Vì vậy, ngươi sẽ cảm thấy như thể không có đau đớn gì nhiều, và rằng Đức Chúa Trời rất đáng mến. Nếu ngươi nuông chiều các yếu điểm của xác thịt, và nói rằng Đức Chúa Trời đi quá xa, thì ngươi sẽ luôn cảm thấy đau đớn, sẽ luôn chán nản thất vọng, và ngươi sẽ không rõ về toàn bộ công tác của Đức Chúa Trời, và nó sẽ như thể Đức Chúa Trời chẳng hề cảm thông với yếu điểm của con người, và không biết đến những khó khăn của con người. Và vì thế ngươi sẽ cảm thấy khốn khổ và cô độc, như thể ngươi đã chịu đựng sự bất công lớn, và lúc này ngươi sẽ bắt đầu ca thán. Ngươi càng nuông chiều các yếu điểm của xác thịt theo cách này, ngươi sẽ càng cảm thấy Đức Chúa Trời đi quá xa, cho tới khi nó trở nên quá tệ đến nỗi ngươi phủ nhận công tác của Đức Chúa Trời, bắt đầu chống đối Đức Chúa Trời, và trở nên đầy dẫy sự bất tuân. Vì vậy, ngươi phải chống lại xác thịt và không nuông chiều nó: “Chồng (vợ), con cái, tiền đồ, hôn nhân, gia đình của tôi - chẳng có gì trong số đó là quan trọng! Trong lòng tôi chỉ có Đức Chúa Trời, và tôi phải gắng hết mình làm đẹp lòng Chúa, và không thỏa mãn xác thịt.” Ngươi phải có quyết tâm này. Nếu ngươi luôncó được quyết tâm như thế, thì khi ngươi đưa lẽ thật vào thực hành, và gạt bản thân mình sang một bên, ngươi sẽ có thể làm thế mà không phải nỗ lực nhiều. Chuyện kể rằng có một người nông dân nhìn thấy một con rắn bị đông cứng trên đường. Người nông dân nhặt nó lên và giữ nó nơi ngực mình, sau khi con rắn tỉnh lại, nó đã cắn chết người nông dân ấy. Xác thịt của con người giống con rắn: Bản chất của nó là làm tổn hại đời sống của họ - và khi nó hoàn toàn được theo ý mình, sự sống của ngươi bị tước đi. Xác thịt thuộc về Sa-tan. Bên trong nó là những sự thèm muốn vô độ, nó chỉ nghĩ cho bản thân, nó muốn tận hưởng sự thoải mái và ham thích sự nhàn rỗi, đắm mình trong sự uể oải và lười biếng, và sau khi đã thỏa mãn nó tới một ngưỡng nhất định thì cuối cùng ngươi sẽ bị nó. Nghĩa là, nếu ngươi thoả mãn nó lần này, lần tới nó sẽ đến và đòi hỏi nhiều hơn. Nó luôn có những sự thèm muốn vô độ và những đòi hỏi mới, và lợi dụng việc ngươi nuông chiều xác thịt để khiến ngươi yêu chiều nó nhiều hơn và sống giữa các lạc thú của nó - và nếu ngươi không vượt quađược nó, cuối cùng ngươi sẽ hủy hoại chính mình. Ngươi có thể đạt được sự sống trước Đức Chúa Trời hay không, và kết cuộc của ngươi thế nào, tùy thuộc vào cách ngươi chống lại xác thịt. Đức Chúa Trời đã cứu ngươi, đã chọn và tiền định ngươi, song nếu hôm nay ngươi không sẵn lòng làm đẹp lòng Ngài, ngươi không sẵn lòng đưa lẽ thật vào thực hành, ngươi không sẵn lòng chống lại chính xác thịt của mình với một tấm lòng thật sự yêu mến Đức Chúa Trời, thì cuối cùng ngươi sẽ hủy hoại chính mình, và vì vậy sẽ chịu đựng sự đau đớn cùng cực. Nếu ngươi luôn nuông chiều thịt, Sa-tan sẽ dần dần nuốt chửng ngươi bên trong và khiến ngươi không còn sự sống hay sự chạm đến của Thần, cho đến ngày bên trong ngươi hoàn toàn tối tăm. Khi ngươi sống trong bóng tối, ngươi sẽ bị Sa-tan giam hãm, ngươi sẽ không còn có Chúa trong lòng mình, và lúc đó ngươi sẽ chối bỏ sự tồn tại của Đức Chúa Trời và rời bỏ Ngài. Vì vậy, nếu ngươi mong muốn yêu mến Đức Chúa Trời, ngươi phải trả giá là sự đau đớn và chịu đựng gian khổ. Không cần sự sốt sắng và gian khổ bề ngoài, đọc nhiều hơn và xông xáo thêm; mà thay vào đó, ngươi phải gạt sang một bên những thứ bên trong ngươi như là: các tư tưởng ngông cuồng, các lợi ích cá nhân, các mối quan tâm, các quan niệm và các động cơ của riêng ngươi. Như thế mới là ý muốn của Đức Chúa Trời.

Chủ Nhật, 8 tháng 3, 2020

Hiểu biết về công tác mới nhất của Đức Chúa Trời và đi theo dấu chân Ngài

Giờ đây, các ngươi phải theo đuổi việc trở thành dân sự của Đức Chúa Trời, và sẽ bắt đầu bước hẳn vào con đường đúng. Là dân sự của Đức Chúa Trời nghĩa là bước vào Thời đại Vương quốc. Ngày nay, các ngươi chính thức bắt đầu bước vào sự huấn luyện của vương quốc, và đời sống tương lai của các ngươi sẽ không còn chểnh mảng và cẩu thả như trước đây; những đời sống như thế không có khả năng đạt được các tiêu chuẩn theo yêu cầu của Đức Chúa Trời. Nếu ngươi không cảm nhận được bất kỳ sự cấp bách nào, thì điều này cho thấy rằng ngươi không có mong muốn cải thiện bản thân mình, rằng sự theo đuổi của ngươi lộn xộn và rối rắm, và ngươi không có khả năng làm trọn ý muốn của Đức Chúa Trời. Bước vào sự huấn luyện của vương quốc có nghĩa là sự khởi đầu đời sống của dân sự của Đức Chúa Trời - ngươi có sẵn sàng chấp nhận sự huấn luyện như vậy không? Ngươi có sẵn sàng cảm nhận một cảm giác cấp bách không? Ngươi có sẵn sàng sống dưới sự sửa dạy của Đức Chúa Trời không? Ngươi có sẵn sàng sống dưới sự trừng phạt của Đức Chúa Trời không? Khi lời của Đức Chúa Trời đến trên ngươi và thử thách ngươi, ngươi sẽ hành động thế nào? Và ngươi sẽ làm gì khi đương đầu với mọi sự việc? Trong quá khứ, sự tập trung của ngươi không phải vào đời sống; ngày nay, ngươi phải bước vào hiện thực của đời sống, và theo đuổi những sự thay đổi trong tâm tính sống của ngươi. Đây chính là điều dân sự của vương quốc phải đạt được. Tất cả những ai là dân sự của Đức Chúa Trời phải có sự sống, họ phải chấp nhận sự huấn luyện của vương quốc, và theo đuổi những sự thay đổi trong tâm tính sống của mình. Đây chính là điều Đức Chúa Trời đòi hỏi nơi dân sự của vương quốc.

Thứ Sáu, 6 tháng 3, 2020

Công tác của Đức Chúa Trời và sự thực hành của con người

Công tác của Chúa giữa con người không thể tách rời khỏi con người, bởi con người là đối tượng của công tác này, và là tạo vật duy nhất được Chúa tạo nên có thể làm chứng về Chúa. Đời sống của con người và tất cả những hoạt động của con người đều không thể tách rời khỏi Chúa, và tất cả đều được điều khiển bởi bàn tay của Chúa, thậm chí có thể nói rằng không ai có thể tồn tại độc lập với Chúa. Không ai có thể phủ nhận điều này, bởi nó là một sự thật. Tất cả những gì Đức Chúa Trời làm đều vì lợi ích của nhân loại, và nhắm thẳng vào các âm mưu của Sa-tan. Tất cả những gì con người cần đều đến từ Chúa, và Chúa là cội nguồn sự sống của con người. Vì vậy, đơn giản là con người không thể rời xa Đức Chúa Trời. Hơn nữa, Đức Chúa Trời chưa bao giờ có bất kỳ ý định rời xa con người. Công tác mà Đức Chúa Trời làm là vì cả nhân loại, và những suy nghĩ của Ngài luôn luôn tốt lành. Vì vậy, đối với con người, công tác của Chúa và suy nghĩ của Chúa (nghĩa là ý muốn của Chúa) là cả hai “khải tượng” mà con người nên biết. Những khải tượng như thế cũng là sự quản lý của Đức Chúa Trời, và là công tác mà con người không có khả năng thực hiện. Trong khi đó, những yêu cầu Đức Chúa Trời đặt ra cho con người trong suốt quá trình công tác của Ngài được gọi là “sự thực hành” của con người. Những khải tượng là công tác của chính Đức Chúa Trời, hoặc là ý muốn của Ngài dành cho nhân loại hoặc các mục đích và ý nghĩa công tác của Ngài. Những khải tượng cũng có thể nói là một phần của sự quản lý, bởi sự quản lý này là công tác của Chúa, và nhằm vào con người, có nghĩa đó là công tác mà Chúa thực hiện giữa con người. Công tác này là bằng chứng và là con đường qua đó con người biết đến Đức Chúa Trời, và đó là điều vô cùng quan trọng đối với con người. Thay vì chú ý đến kiến thức về công tác của Chúa, nếu mọi người chỉ chú ý đến các giáo lý về niềm tin nơi Chúa, hoặc đến những chi tiết vặt vãnh không quan trọng, thì đơn giản là họ sẽ không biết Chúa, và hơn thế nữa, sẽ không hợp lòng Chúa. Công tác của Chúa mà cực kỳ hữu ích cho kiến thức của con người về Chúa, thì được gọi là những khải tượng. Những khải tượng này là công tác của Chúa, ý muốn của Chúa, những mục đích và ý nghĩa công tác của Chúa; tất cả chúng đều có ích cho con người. Sự thực hành đề cập đến những gì nên được thực hiện bởi con người, những gì nên được thực hiện bởi những tạo vật đi theo Đức Chúa Trời và đó cũng là bổn phận của con người. Những gì con người cần phải làm không phải là điều mà con người đã hiểu ngay từ đầu, mà là những yêu cầu Đức Chúa Trời đặt ra cho con người trong suốt quá trình công tác của Ngài. Những yêu cầu này dần dần trở nên sâu sắc hơn và nâng cao hơn khi Đức Chúa Trời làm việc. Ví dụ, trong suốt Thời đại Luật pháp, con người đã phải tuân theo luật pháp, và trong suốt Thời đại Ân điển, con người đã phải vác thập tự giá. Thời đại Vương quốc thì khác: Những yêu cầu đối với con người cao hơn trong Thời đại Luật pháp và Thời đại Ân điển. Khi những khải tượng trở nên cao cả hơn, thì những yêu cầu đối với con người trở nên cao hơn, trở nên rõ ràng hơn và thật hơn bao giờ hết. Tương tự như vậy, những khải tượng cũng ngày càng trở thành hiện thực. Nhiều khải tượng thật này không chỉ có ích cho sự vâng phục Chúa của con người, mà hơn nữa, còn có ích cho kiến thức của họ về Chúa.

Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2020

Chính Đức Chúa Trời, Đấng độc nhất III

Hội Thánh Đức Chúa Trời Toàn Năng | Đức Chúa Trời phán:″Thẩm quyền của Đức Chúa Trời (II)
Hôm nay chúng ta sẽ tiếp tục buổi thông công về đề tài “Chính Đức Chúa Trời, Đấng độc nhất.” Chúng ta đã có hai buổi thông công về chủ đề này, buổi đầu tiên liên quan đến thẩm quyền của Chúa và buổi thứ nhì liên quan đến tâm tính công chính của Chúa. Sau khi đã nghe qua hai buổi thông công này, các ngươi đã có được một sự hiểu biết về bản thể, địa vị, và thực chất của Đức Chúa Trời rồi phải không? Những sự thấu hiểu này đã giúp các ngươi đạt được một kiến thức thực chất hơn và sự chắc chắn về lẽ thật trong sự hiện hữu của Đức Chúa Trời rồi phải không? Hôm nay Ta có kế hoạch mở rộng về đề tài “thẩm quyền của Đức Chúa Trời.”

Thứ Sáu, 10 tháng 1, 2020

Lẽ mầu nhiệm của sự nhập thể (2)

Hội Thánh Đức Chúa Trời Toàn Năng | Đức Chúa Trời phán:″Lẽ thật bên trong của công việc chinh phục (2)″
Vào thời điểm khi Jêsus làm việc tại Giu-đê, Ngài đã làm việc một cách công khai, nhưng hiện nay, Ta làm việc và phán giữa các ngươi trong bí mật. Những kẻ ngoại đạo hoàn toàn không biết về việc đó. Công tác của Ta ở giữa các ngươi được đóng kín đối với người ngoài. Những lời này, những sự trừng phạt và phán xét này, chỉ được tất cả các ngươi mà chẳng có ai khác biết đến. Tất cả công tác này được thực hiện giữa các ngươi và chỉ mở ra cho các ngươi; không ai trong số những kẻ ngoại đạo biết được điều này, vì vẫn chưa đến lúc. Những người ở đây sắp được làm cho trọn vẹn sau khi chịu sự trừng phạt, nhưng những người ngoài không hay biết gì về điều này. Công tác này là quá kín giấu! Đối với họ, việc Đức Chúa Trời trở nên xác thịt được giấu kín, nhưng đối với những người trong dòng chảy này, người ta có thể nói rằng Ngài là công khai. Mặc dù nơi Đức Chúa Trời tất cả đều công khai, tất cả đều được tỏ lộ, và tất cả đều được giải phóng, nhưng điều này chỉ đúng với những người tin vào Ngài; khi nói đến phần còn lại, là những kẻ ngoại đạo, thì lại không được biết gì cả. Công tác đang được thực hiện tại đây lúc này được đóng kín nghiêm ngặt để họ không biết đến. Nếu họ biết đến công tác này, thì tất cả những gì họ sẽ làm là lên án và bắt bớ nó. Họ sẽ không tin vào điều đó. Để làm việc trong quốc gia của con rồng lớn sắc đỏ, nơi lạc hậu nhất này, không phải là nhiệm vụ dễ dàng. Nếu công tác này được đưa ra công khai, nó sẽ không thể tiếp tục. Giai đoạn công tác này đơn giản là không thể được thực hiện tại nơi này. Nếu công tác này được thực hiện công khai, làm sao họ có thể cho phép nó tiến triển được? Chẳng phải điều này thậm chí sẽ đặt công tác vào rủi ro lớn hơn sao? Nếu công tác này không được che giấu, mà lại được thực hiện như trong thời của Jêsus, khi Ngài đã chữa lành người bệnh và đuổi quỷ một cách ngoạn mục, thì chẳng phải nó đã bị ma quỷ “bắt bỏ tù” từ lâu rồi sao? Liệu họ có thể khoan dung cho sự tồn tại của Đức Chúa Trời hay không? Nếu giờ đây Ta bước vào các hội trường để rao giảng và thuyết giáo con người, thì chẳng phải Ta đã tiêu tan thành từng mảnh từ lâu rồi hay sao? Và nếu điều này xảy ra, thì làm sao công tác của Ta có thể tiếp tục được thực hiện? Lý do không hề có dấu kỳ phép lạ nào được thể hiện công khai là vì mục đích che giấu. Vì vậy, đối với những người ngoại đạo, công tác của Ta không thể được nhìn thấy, được biết đến hoặc được khám phá. Nếu giai đoạn công tác này được thực hiện theo cách tương tự như của Jêsus trong Thời đại Ân điển, thì nó không thể được vững chắc như bây giờ. Vì vậy, làm việc một cách bí mật theo cách này là có lợi cho các ngươi và cho toàn bộ công tác. Khi công tác của Đức Chúa Trời trên đất chấm dứt, nghĩa là khi công tác bí mật này kết thúc, thì giai đoạn công tác này sẽ rộ lên công khai. Tất cả sẽ biết rằng có một nhóm người chiến thắng ở Trung Quốc; tất cả sẽ biết rằng Đức Chúa Trời trở nên xác thịt ở Trung Quốc và công tác của Ngài đã kết thúc. Chỉ khi đó nó mới trở nên rõ ràng cho con người: Tại sao Trung Quốc vẫn chưa biểu hiện sự suy giảm hay sụp đổ? Hóa ra Đức Chúa Trời đang đích thân thực hiện công tác của Ngài tại Trung Quốc và đã hoàn thiện một nhóm người trở thành những người chiến thắng.

Thứ Tư, 25 tháng 12, 2019

Chương 6

Hãy tinh ý đối với những vấn đề về tâm linh, hãy chăm chú đến lời Ta, và thực sự có khả năng coi Thần của Ta và hữu thể của Ta, và lời Ta và hữu thể Ta là một tổng thể không thể tách rời, để tất cả mọi người có thể làm đẹp lòng Ta trong sự hiện diện của Ta. Ta đã đặt chân đến khắp mọi nơi, ta đã quan sát khắp khoảng không mênh mông của vũ trụ, và Ta đã bước đi giữa dân chúng, nếm trải những ngọt bùi và đắng cay giữa con người - ấy thế mà chưa bao giờ con người thực sự biết Ta, chưa bao giờ chú ý đến Ta trong suốt các hành trình của Ta. Bởi vì ta đã yên lặng, và không bao giờ trình diễn những hành động siêu nhiên, nên chưa có ai từng thực sự thấy Ta. Ngày nay không như trước kia nữa: Ta sẽ làm những việc chưa từng thấy kể từ thời kỳ sáng thế, sẽ nói những lời chưa từng nghe qua mọi thời đại, vì Ta yêu cầu tất cả mọi người phải biết đến Ta ở thể xác thịt. Đây là các bước quản lý của Ta, nhưng con người không hề hay biết; mặc dù Ta đã nói rõ ràng, nhưng loài người vẫn lầm lẫn; thật khó làm cho họ thông hiểu. Đấy chẳng phải là sự thấp hèn của con người sao? Đấy chẳng phải chính xác là thứ ta muốn cứu chữa sao? Trong nhiều năm, Ta đã không làm gì nơi con người; trong nhiều năm, mặc dù tiếp xúc trực tiếp với xác thịt nhập thể của Ta, nhưng chưa có ai từng nghe thấy tiếng nói phát ra trực tiếp từ thần tính của Ta. Vì vậy, con người không thể tránh khỏi việc thiếu hiểu biết về Ta, mặc dù điều này không ảnh hưởng đến tình yêu của họ với Ta qua các thời đại. Tuy nhiên, ngày hôm nay, ta đã thực hiện nơi các ngươi một công tác màu nhiệm, một công tác mà không thể thấu hiểu và không có giới hạn, và lời Ta phán dạy đã nhiều. Vậy mà, trong hoàn cảnh đó, vẫn có nhiều kẻ trực tiếp chống lại Ta trong sự hiện diện của Ta. Để Ta cho các ngươi một số ví dụ:

Thứ Năm, 14 tháng 11, 2019

Khải tượng về công tác của Đức Chúa Trời (1)

Giăng đã làm việc bảy năm cho Jêsus, và đã dọn đường khi Jêsus đến. Trước đó, Phúc Âm về vương quốc thiên đàng do Giăng rao giảng đã được nghe thấy khắp vùng, hầu cho nó lan rộng khắp Giu-đê, và mọi người gọi Giăng là một tiên tri. Vào lúc đó, Vua Hê-rốt muốn giết Giăng, nhưng lại không dám, vì dân chúng rất kính trọng Giăng, và Hê-rốt sợ rằng nếu vua giết Giăng thì họ sẽ nổi dậy chống lại vua. Công tác được Giăng thực hiện đã bén rễ giữa những người bình thường, và người đã tạo nên những tín đồ người Do Thái. Trong bảy năm, người đã dọn đường cho Jêsus, cho đến khi Jêsus bắt đầu thực hiện chức vụ của Ngài. Và vì vậy, Giăng là người vĩ đại nhất trong tất cả các tiên tri. Jêsus chỉ bắt đầu công tác chính thức của Ngài sau khi Giăng bị cầm tù. Trước Giăng, chưa từng có một tiên tri nào dọn đường cho Đức Chúa Trời, bởi vì trước Jêsus, Đức Chúa Trời chưa bao giờ trở nên xác thịt trước đó. Và vì vậy, trong số tất cả các tiên tri cho đến Giăng, người là tiên tri duy nhất dọn đường cho Đức Chúa Trời nhập thể, và bằng cách này Giăng đã trở thành tiên tri vĩ đại nhất của Cựu và Tân Ước. Giăng đã bắt đầu rao truyền Phúc Âm của vương quốc thiên đàng bảy năm trước khi Jêsus nhận phép báp-têm. Đối với mọi người, công tác người đã làm dường như vượt trên công tác tiếp sau đó của Jêsus, tuy nhiên, người vẫn chỉ là một tiên tri mà thôi. Người đã làm việc và phán dạy không phải bên trong đền thờ, mà là ở các thị trấn và làng mạc bên ngoài đền thờ. Tất nhiên, người đã làm điều này giữa dân tộc Do Thái, đặc biệt là những người nghèo khổ. Hiếm khi Giăng tiếp xúc với những người từ giới thượng lưu của xã hội, chỉ rao truyền Phúc Âm giữa những người bình thường tại Giu-đê nhằm chuẩn bị những người phù hợp cho Đức Chúa Jêsus, và chuẩn bị những địa điểm thích hợp để Ngài làm việc. Với một tiên tri như Giăng mở đường, Đức Chúa Jêsus đã có thể bắt đầu ngay con đường thập tự giá của Ngài ngay khi Ngài đến. Khi Đức Chúa Trời trở nên xác thịt để làm công tác của Ngài, Ngài đã không phải làm công tác chọn người, và không cần phải đích thân tìm người hay địa điểm để làm việc. Ngài đã không làm những việc như thế khi Ngài đến; người thích hợp đã chuẩn bị cho Ngài trước khi Ngài đến. Giăng đã hoàn thành công tác này trước khi Jêsus bắt đầu công tác của Ngài, vì khi Đức Chúa Trời nhập thể đến để thực hiện công tác của mình, Ngài đã bắt tay làm việc ngay trên những người đã chờ đợi Ngài từ lâu. Jêsus đã đến không phải để thực hiện công tác của con người, hoặc công tác điều chỉnh thuộc bổn phận của con người. Ngài đã đến chỉ để thực hiện chức vụ mà chính Ngài phải thực hiện, và mọi thứ khác đều không liên quan đến Ngài. Khi Giăng đến, người đã không làm gì khác ngoài việc đưa ra khỏi đền thờ và giữa vòng dân Do Thái một nhóm người chấp nhận Phúc Âm của vương quốc thiên đàng, để họ có thể trở thành những đối tượng cho công tác của Đức Chúa Jêsus. Giăng đã làm việc trong bảy năm, có nghĩa là người đã rao truyền Phúc Âm trong bảy năm. Trong công tác của mình, Giăng đã không thực hiện nhiều phép lạ, vì công tác của người là dọn đường, đó là công tác chuẩn bị. Tất cả những công tác khác, công tác Jêsus sẽ làm, không liên quan đến người; người đã chỉ yêu cầu con người xưng tội của mình và ăn năn, và làm phép báp-têm cho mọi người, hầu cho họ có thể được cứu rỗi. Mặc dù người đã làm công tác mới và đã mở ra một con đường mà con người chưa từng đi trước đó, nhưng người vẫn chỉ dọn đường cho Jêsus mà thôi. Người chỉ đơn thuần là một tiên tri đã làm công tác chuẩn bị, và không có khả năng làm công tác của Jêsus. Mặc dù Jêsus không phải là người đầu tiên rao giảng Phúc Âm về vương quốc thiên đàng, và mặc dù Ngài tiếp tục trên con đường mà Giăng đã mở ra, nhưng vẫn không có ai khác có thể làm công tác của Ngài, và nó vượt lên trên công tác của Giăng. Jêsus đã không thể chuẩn bị con đường riêng của Ngài; công tác của Ngài đã được thực hiện trực tiếp nhân danh Đức Chúa Trời. Và vì vậy, cho dù Giăng đã làm việc bao nhiêu năm thì người vẫn là một tiên tri, và vẫn là một người dọn đường. Ba năm công tác do Jêsus thực hiện đã vượt qua bảy năm công tác của Giăng, vì thực chất công tác của Ngài không giống như của Giăng. Khi Jêsus bắt đầu thực hiện chức vụ của Ngài, đó cũng là lúc công tác của Giăng kết thúc, Giăng đã chuẩn bị đủ người và địa điểm cho Đức Chúa Jêsus sử dụng, và chúng đã đủ cho Đức Chúa Jêsus bắt đầu ba năm công tác. Và vì vậy, ngay khi công tác của Giăng kết thúc, Đức Chúa Jêsus đã chính thức bắt đầu công tác của riêng Ngài, và những lời Giăng đã nói bị gạt sang một bên. Đó là do công tác mà Giăng thực hiện chỉ nhằm mục đích chuyển tiếp, và những lời nói của người không phải là những lời của sự sống sẽ đưa con người đến sự tăng trưởng mới; cuối cùng, những lời nói của người chỉ có ích lợi tạm thời mà thôi.
Công tác mà Jêsus đã làm không phải là siêu nhiên; nó có một quá trình, và tất cả đều đã tiến triển theo những quy luật thông thường của mọi thứ. Vào sáu tháng cuối đời của mình, Jêsus biết chắc chắn rằng Ngài đã đến để làm công tác này, và biết rằng Ngài đã đến để chịu đóng đinh trên thập tự giá. Trước khi chịu đóng đinh, Jêsus đã liên tục cầu nguyện với Đức Chúa Trời là Cha, cũng như Ngài đã cầu nguyện ba lần trong vườn Ghết-sê-ma-nê. Sau khi chịu phép báp-têm, Jêsus đã thực hiện chức vụ của Ngài trong ba năm rưỡi, và công tác chính thức của Ngài đã kéo dài hai năm rưỡi. Trong năm đầu tiên, Ngài đã bị Sa-tan buộc tội, và bị con người quấy nhiễu, chịu sự cám dỗ của con người. Ngài đã chiến thắng nhiều cám dỗ trong lúc thực hiện công tác của Ngài. Trong sáu tháng cuối cùng, khi Jêsus sắp bị đóng đinh, từ miệng Phi-e-rơ đã phát ra những lời rằng Ngài là Con Đức Chúa Trời hằng sống, rằng Ngài là Đấng Christ. Chỉ khi đó thì công tác của Ngài mới được mọi người biết đến, và chỉ khi đó danh tính của Ngài mới được tiết lộ với công chúng. Sau đó, Jêsus đã bảo các môn đồ của Ngài rằng Ngài sẽ bị đóng đinh vì con người, và rằng ba ngày sau Ngài sẽ sống lại; rằng Ngài đã đến để thực hiện công tác cứu chuộc, và Ngài là Đấng Cứu Thế. Chỉ trong sáu tháng cuối cùng Ngài mới tiết lộ danh tính của mình và công tác mà Ngài dự định làm. Đây cũng là thời điểm của Đức Chúa Trời, và công tác nên được thực hiện như vậy. Vào thời điểm đó, một phần công tác của Jêsus phù hợp với Cựu Ước, cũng như với luật pháp của Môi-se và những lời của Đức Giê-hô-va trong Thời đại Luật pháp. Jêsus đã sử dụng tất cả những điều này để thực hiện phần công tác của Ngài. Ngài đã rao giảng cho dân chúng và dạy dỗ họ trong các nhà hội, và Ngài đã dùng những lời tiên báo của các tiên tri trong Cựu Ước để quở trách người Pha-ri-si đang thù địch với Ngài, và đã dùng những lời trong Kinh Thánh để tỏ lộ sự bất tuân của họ và qua đó lên án họ. Vì họ xem thường những gì Jêsus đã làm; đặc biệt, phần lớn công tác của Jêsus đã không dựa theo luật pháp trong Kinh Thánh, và hơn thế nữa, những gì Ngài đã dạy dỗ còn cao hơn những lời nói của chính họ, và thậm chí cao hơn những gì đã được các tiên tri trong Kinh Thánh tiên báo. Công tác của Jêsus chỉ vì sự cứu chuộc con người và sự đóng đinh trên thập tự giá. Do đó, Ngài không cần phải phán thêm lời nào nhằm chinh phục bất kỳ người nào. Phần lớn những gì Ngài đã dạy dỗ con người được rút ra từ những lời của Kinh Thánh, và ngay cả khi công tác của Ngài không vượt quá Kinh Thánh thì Ngài vẫn có thể hoàn thành công tác chịu đóng đinh. Công tác của Ngài không phải là công tác dùng lời nói, cũng không phải để chinh phục loài người, mà là nhằm cứu chuộc nhân loại. Ngài đã chỉ đóng vai trò là của lễ chuộc tội cho nhân loại, và không đóng vai trò là nguồn gốc của lời dành cho nhân loại. Ngài đã không làm công tác của dân ngoại, là công tác chinh phục con người, mà đã làm công tác chịu đóng đinh, là công tác được thực hiện giữa những người tin rằng có một Đức Chúa Trời. Mặc dù công tác của Ngài đã được thực hiện dựa trên nền tảng của Kinh Thánh, và Ngài đã dùng những điều được tiên báo bởi các tiên tri cũ để kết án người Pha-ri-si, nhưng điều này đã đủ để hoàn thành công tác chịu đóng đinh. Nếu công tác của ngày nay vẫn được thực hiện dựa trên nền tảng của những lời tiên báo của các tiên tri cũ trong Kinh Thánh, thì nó sẽ không thể chinh phục được các ngươi, vì Cựu Ước không có chứa bản ghi chép về sự bất tuân và tội lỗi của người Trung Quốc các ngươi, không có lịch sử về tội lỗi của các ngươi. Và vì vậy, nếu công tác này vẫn còn quanh quẩn trong Kinh Thánh, các ngươi sẽ không bao giờ chịu khuất phục. Kinh Thánh chỉ ghi lại một lịch sử giới hạn của dân Y-sơ-ra-ên, là điều không có khả năng chứng minh liệu các ngươi là xấu hay tốt, hoặc phán xét các ngươi. Hãy tưởng tượng rằng Ta đã phán xét các ngươi dựa theo lịch sử của dân Y-sơ-ra-ên - liệu các ngươi vẫn sẽ theo Ta như các ngươi theo ngày nay chứ? Các ngươi có biết mình khó khăn như thế nào không? Nếu không có lời nào được phán ra trong giai đoạn này, thì sẽ không thể nào hoàn thành công tác chinh phục. Bởi vì Ta đã đến không phải để chịu đóng đinh trên thập tự giá, Ta phải phán những lời tách biệt với Kinh Thánh, để các ngươi có thể được chinh phục. Công tác đã được Jêsus thực hiện chỉ đơn thuần là một giai đoạn cao hơn Cựu Ước; nó đã được dùng để bắt đầu một thời đại, và để dẫn dắt thời đại đó. Tại sao Ngài đã phán rằng: “Ta đã đến không phải để phá hủy luật pháp, nhưng để làm cho trọn”? Tuy nhiên, trong công tác của Ngài có nhiều điều khác biệt với các luật lệ đã được thực hành và các điều răn đã được dân Y-sơ-ra-ên tuân theo trong Cựu Ước, vì Ngài đã không đến để vâng theo luật pháp, mà là để làm trọn nó. Quá trình làm trọn nó bao gồm nhiều điều thực tế: Công tác của Ngài thiết thực và thực tế hơn, và hơn nữa, nó sống động, và không phải là sự trung thành mù quáng vào giáo lý. Chẳng phải dân Y-sơ-ra-ên đã giữ ngày Sa-bát sao? Khi Jêsus đến, Ngài đã không tuân giữ ngày Sa-bát, vì Ngài phán rằng Con người là Chúa của ngày Sa-bát, và khi Chúa của ngày Sa-bát đến, Ngài sẽ làm như Ngài muốn. Ngài đã đến để làm trọn luật pháp của Cựu Ước và để thay đổi luật pháp. Tất cả những gì được thực hiện ngày nay đều dựa trên hiện tại, nhưng nó vẫn dựa trên nền tảng công tác của Đức Giê-hô-va trong Thời đại Luật pháp, và không vượt quá phạm vi này. Ví dụ, cẩn thận về cái lưỡi của các ngươi, và đừng phạm tội tà dâm - những điều này chẳng phải là những luật lệ của Cựu Ước sao? Ngày nay, những gì được yêu cầu ở các ngươi không chỉ bị giới hạn trong Mười Điều Răn, mà bao gồm các điều răn và luật lệ của một trật tự cao hơn so với những điều đã đến trước đây, nhưng điều này không có nghĩa là những điều đến trước đã bị bãi bỏ, vì từng giai đoạn công tác của Đức Chúa Trời được thực hiện trên nền tảng của giai đoạn trước đó. Về những điều mà Đức Giê-hô-va đã đưa ra cho Y-sơ-ra-ên, chẳng hạn như yêu cầu mọi người phải dâng tế lễ, hiếu kính cha mẹ, không thờ thần tượng, không hành hung hay rủa sả người khác, không phạm tội tà dâm, không hút thuốc hay uống rượu, và không ăn những vật chết hoặc uống huyết: chẳng phải điều này hình thành nền tảng cho thực hành của các ngươi thậm chí đến ngày nay sao? Chính trên nền tảng của quá khứ mà công tác đã được thực hiện cho đến ngày nay. Mặc dù các luật lệ của quá khứ không còn được đề cập đến và các yêu cầu mới đã được lập ra cho các ngươi, nhưng các luật lệ này, chẳng những không bị bãi bỏ, mà thay vào đó còn được nâng lên vị trí cao hơn. Nói rằng chúng đã bị bãi bỏ có nghĩa là thời đại trước đã lỗi thời, trong khi có một số điều răn mà các ngươi phải tôn trọng đời đời. Các điều răn trong quá khứ đã được đưa vào thực hành, đã trở thành bản chất của con người, và không cần phải lặp lại các điều răn không hút thuốc, không uống rượu, v.v. nữa. Dựa trên nền tảng này, các điều răn mới được đặt ra dựa theo những nhu cầu của các ngươi ngày nay, theo vóc giạc của các ngươi, và theo công tác của ngày nay. Việc ban ra các điều răn cho thời đại mới không có nghĩa là bãi bỏ các điều răn của thời đại cũ, mà là nâng chúng lên cao hơn dựa trên nền tảng này, để khiến cho những hành động của con người được trọn vẹn hơn, và phù hợp hơn với thực tế. Nếu ngày nay, các ngươi được yêu cầu chỉ tuân theo các điều răn và tuân thủ luật pháp của Cựu Ước, giống như dân Y-sơ-ra-ên, và nếu thậm chí các ngươi được yêu cầu ghi nhớ luật pháp do Đức Giê-hô-va đặt ra, thì sẽ không có khả năng nào để các ngươi có thể thay đổi. Nếu các ngươi chỉ tuân thủ một vài điều răn giới hạn hoặc ghi nhớ vô số luật lệ, thì bản chất cũ của các ngươi sẽ cứ ăn sâu, và sẽ không có cách nào để nhổ bật gốc nó. Như thế, các ngươi sẽ ngày càng trở nên suy đồi, và không một ai trong số các ngươi sẽ trở nên vâng lời. Điều đó có nghĩa là một vài điều răn đơn giản hoặc vô số luật lệ không có khả năng giúp các ngươi biết những việc làm của Đức Giê-hô-va. Các ngươi không giống như dân Y-sơ-ra-ên: Bằng cách tuân theo luật pháp và ghi nhớ các điều răn, họ đã có thể làm chứng cho những việc làm của Đức Giê-hô-va, và chỉ tận hiến cho Ngài mà thôi, nhưng các ngươi không thể đạt được điều này, và một vài điều răn của thời đại Cựu Ước không chỉ không có khả năng khiến cho các ngươi trao phó lòng mình, hoặc bảo vệ các ngươi, mà thay vào đó sẽ khiến các ngươi lơi lỏng, và sẽ kéo các ngươi xuống âm phủ. Vì công tác của Ta là công tác chinh phục, nhắm vào sự bất tuân và bản chất cũ của các ngươi. Những lời tử tế của Đức Giê-hô-va và Jêsus còn thua xa những lời phán xét gay gắt ngày nay. Nếu không có những lời lẽ gay gắt như vậy, sẽ không thể chinh phục được “các chuyên gia” như các ngươi, những người đã bất tuân trong hàng nghìn năm. Luật pháp của Cựu Ước đã mất tác dụng trên các ngươi từ lâu, và sự phán xét của ngày nay còn kinh khủng hơn nhiều so với luật pháp cũ. Điều thích hợp nhất với các ngươi là sự phán xét, chứ không phải là những hạn chế vặt vãnh của luật pháp, vì các ngươi không phải là nhân loại của thuở ban đầu, mà là nhân loại đã bị bại hoại qua hàng nghìn năm. Những gì con người phải đạt được lúc này là dựa theo tình trạng thực tế của con người ngày nay, dựa theo phẩm chất và vóc giạc thực tế của con người hiện nay, và nó không đòi hỏi ngươi phải tuân theo giáo lý. Điều này là để có thể đạt được những thay đổi trong bản chất cũ của ngươi, và để ngươi có thể gạt bỏ những quan niệm của mình sang một bên. Ngươi có nghĩ rằng các điều răn là giáo lý không? Có thể nói, chúng là những yêu cầu thông thường dành cho con người. Chúng không phải là giáo lý mà ngươi phải tuân theo. Hãy lấy việc cấm hút thuốc làm ví dụ - đó có phải là giáo lý không? Nó không phải là giáo lý! Nó là điều cần có cho nhân tính bình thường; nó không phải là giáo lý, mà là một phép tắc cho toàn thể nhân loại. Ngày nay, hàng tá những điều răn đã được đặt ra cũng không phải là giáo lý, mà là những điều cần thiết để đạt được nhân tính bình thường. Mọi người đã không sở hữu hoặc biết về những điều như thế trong quá khứ, và vì vậy họ được yêu cầu phải đạt được chúng ngày nay, không được tính là giáo lý. Luật pháp không giống với giáo lý. Giáo lý mà Ta nói đến đề cập đến các nghi lễ, các thủ tục hoặc các thực hành lệch lạc và sai lầm của con người; đó là những phép tắc và quy định không giúp ích gì cho con người, không có lợi cho họ, và đó là một lối hành động vô nghĩa. Đây là điển hình của giáo lý, và giáo lý như thế phải bị loại bỏ, vì nó không mang lợi ích gì cho con người. Chỉ những điều có lợi cho con người thì mới phải được đưa vào thực hành.
Giới thiệu:
Tin Chúa thế nào mới hợp với tâm ý của Chúa? Đọc lời của Chúa, dẫn bạn hiểu tâm ý và yêu cầu của Chúa.

Thứ Năm, 7 tháng 11, 2019

Lời hứa với những ai đã được vẹn tròn

Đâu là con đường mà qua đó Đức Chúa Trời hoàn thiện con người? Con đường ấy bao gồm những khía cạnh nào? Ngươi có sẵn lòng trở nên vẹn tròn dưới bàn tay Đức Chúa Trời không? Ngươi có sẵn lòng chấp nhận phán xét và trừng phạt của Đức Chúa Trời không? Ngươi hiểu biết về những vấn đề này đến mức nào? Nếu vẫn chưa biết nói gì về những tri thức này, nghĩa là ngươi vẫn chưa biết gì về việc làm của Đức Chúa Trời và vẫn chưa hề được Thánh Linh khai sáng. Con người như thế không thể trở nên vẹn tròn. Họ chỉ có thể nhận được một chút ân điển nhỏ nhoi để tận hưởng trong khoảng thời gian ngắn ngủi và ân điển ấy chẳng thể dài lâu. Nếu chỉ biết hưởng thụ ân điển của Đức Chúa Trời, người ta sẽ chẳng thể được Đức Chúa Trời giúp cho được vẹn tròn. Có những người hài lòng với sự bình yên và hưởng thụ thân xác, một cuộc sống thoải mái vô ưu vô lo, không gặp phải nghịch cảnh hay bất hạnh, cả gia đình chung sống ấm êm thuận hòa sống, không tranh giành cãi vã. Họ có thể cứ tưởng những điều đó chính là phước lành của Đức Chúa Trời, nhưng thực ra, đó chỉ là ân điển của Đức Chúa Trời mà thôi. Các ngươi không thể chỉ biết thỏa mãn với việc tận hưởng ân điển của Đức Chúa Trời. Cách nghĩ ấy thật dung tục. Ngay cả khi ngươi đọc lời răn của Đức Chúa Trời hằng ngày, cầu nguyện hằng ngày và linh hồn ngươi cảm nhận được niềm hân hoan, an nhiên khôn xiết, nhưng cuối cùng, ngươi không thể phát biểu bất cứ hiểu biết nào về Đức Chúa Trời và công việc của Ngài, ngươi không được trải nghiệm những điều đó và dẫu đã ăn và uống bao nhiêu lời răn của Chúa, nếu ngươi chỉ đơn thuần cảm nhận sự an nhiên và hân hoan trong tâm khảm và rằng lời răn của Chúa ngọt ngào không gì so sánh được, đến nỗi ngươi có thụ hưởng đến mức nào cũng không đủ, nhưng, ngươi không được thực sự trải nghiệm và không được chứng kiến thực tế lời răn của Đức Chúa Trời, vậy, kiểu đức tin như thế có thể mang đến điều gì đây? Nếu ngươi không thể sống đúng bản chất thực sự của lời răn từ Đức Chúa Trời, thì việc các ngươi ăn và uống những lời răn và cầu nguyện của Đức Chúa Trời hoàn toàn thuộc về tín ngưỡng tôn giáo. Những người như thế không thể được hoàn thiện và không thể về bên Đức Chúa Trời. Tất cả những người được về bên Đức Chúa Trời đều theo đuổi chân lý. Đức Chúa Trời không thu nhận thân xác hay của cải của con người, Ngài thu nhận phần bên trong con người – phần thuộc về Đức Chúa Trời. Bởi thế, thứ Đức Chúa Trời hoàn thiện không phải thân xác mà chính là trái tim con người, để trái tim con người được về bên Đức Chúa Trời. Nói cách khác, bản chất của việc nói rằng Đức Chúa Trời hoàn thiện con người nằm ở chỗ, Đức Chúa Trời hoàn thiện trái tim con người để trái tim ấy hướng về Đức Chúa Trời và yêu mến Ngài.
Thân xác con người là phàm tục. Thân xác ấy chẳng hề mang tới bất cứ điều gì cho Đức Chúa Trời, bởi thân xác chắc chắn sẽ trở về với cát bụi. Thân xác không thể tiếp nhận di sản của Đức Chúa Trời hay phước lành của Ngài. Nếu Đức Chúa Trời chỉ thu nhận thân xác con người, đặt dưới ánh sáng này, thì con người sẽ chỉ ở dưới ánh sáng đó trên danh nghĩa, còn trái tim con người sẽ thuộc về quỷ Sa-tan. Nếu thế, con người không chỉ không thể trở thành hiện thân của Đức Chúa Trời, mà thay vào đó, họ sẽ trở thành gánh nặng của Ngài. Khi đó, sự lựa chọn của Đức Chúa Trời đối với con người sẽ trở nên vô nghĩa. Những người sẽ được Đức Chúa Trời hoàn thiện là những người sẽ nhận được phước lành của Đức Chúa Trời và di sản của Ngài. Nghĩa là, họ tiếp nhận mọi điều Đức Chúa Trời sở hữu và hiện hữu, biến những điều ấy thành tồn tại sâu thẳm bên trong chính mình; họ khắc tạc mọi lời răn của Đức Chúa Trời vào bên trong chính mình; dù bản thể của Đức Chúa Trời là gì, các ngươi vẫn có thể nhận được tất cả những điều đó, không hề sai lệch, bằng cách ấy được sống theo lẽ thật. Như thế mới là người được Đức Chúa Trời hoàn thiện và được về bên Đức Chúa Trời. Chỉ những người như thế này mới đủ điều kiện thừa hưởng những phước lành Đức Chúa Trời ban tặng:
1. Tiếp nhận tất cả tình yêu của Đức Chúa Trời.
2. Luôn hành động theo ý Đức Chúa Trời trong mọi việc.
3. Nhận được chỉ dẫn của Đức Chúa Trời, sống dưới ánh sáng của Đức Chúa Trời và được Đức Chúa Trời khai sáng.
4. Sống theo hình ảnh Đức Chúa Trời dấu yêu trên thế gian; yêu Đức Chúa Trời bằng tình yêu đích thực như Phi-e-rơ đã làm, vì Đức Chúa Trời mà chịu đóng đinh trên Thập Giá, xứng đáng lấy cái chết để đền đáp tình yêu của Đức Chúa Trời; đạt được vinh quang như Phi-e-rơ từng đạt.
5. Được yêu mến, tôn trọng và ngưỡng mộ bởi tất cả mọi người trên thế gian.
6. Vượt qua mọi trói buộc của chết chóc và Địa ngục, không trao bất cứ cơ hội nào cho Sa-tan hoành hành, được Đức Chúa Trời ngự trị, sống với tinh thần tươi mới và sống động, và không cảm thấy chán nản, mệt mỏi.
7. Luôn cảm nhận niềm phấn khởi và hăng hái không thể diễn bằng lời ở mọi thời điểm trong suốt cuộc đời, như thể ta đã trông thấy sự xuất hiện của ngày vinh quang của Đức Chúa Trời.
8. Cùng tiếp nhận vinh quang với Đức Chúa Trời, mang thần sắc tương tự như các vị thánh yêu dấu của Đức Chúa Trời.
9. Trở thành người được Đức Chúa Trời yêu thương trên thế gian, nghĩa là đứa con yêu dấu của Đức Chúa Trời.
10. Thay đổi hình thái và cùng Đức Chúa Trời thăng lên tầng trời thứ ba, vượt qua thân xác.
Chỉ những người thừa hưởng phước lành của Đức Chúa Trời mới được Đức Chúa Trời hoàn thiện và thu phục. Ngươi đã tiếp nhận được gì chưa? Đức Chúa Trời đã hoàn thiện ngươi đến mức nào? Đức Chúa Trời không hoàn thiện con người một cách ngẫu nhiên. Có những điều kiện và kết quả rõ ràng mà con người có thể nhìn thấy được. Không như con người vẫn tưởng rằng, miễn có niềm tin vào Đức Chúa Trời, họ sẽ được Đức Chúa Trời hoàn thiện và được về bên Ngài, và có thể nhận những phước lành và di sản của Đức Chúa Trời trên trần gian. Chỉ riêng những điều đó đã vô cùng khó khăn, chưa nói đến sự biến đổi về hình thái. Giờ đây, điều chủ yếu nhất mà các ngươi nên tìm kiếm chính là được Đức Chúa Trời hoàn thiện trong mọi việc, và được Đức Chúa Trời hoàn thiện thông qua mọi người, mọi vấn đề và những điều ngươi phải đối mặt, sao cho đưa được vào bản thân các ngươi thêm càng nhiều điều thuộc về Đức Chúa Trời. Trước tiên, ngươi phải nhận được di sản của Đức Chúa Trời trên trần gian, sau đó mới đủ điều kiện để thừa hưởng thêm những phước lành ngày càng lớn lao từ Đức Chúa Trời. Tất cả những điều ấy đều nên được các ngươi tìm kiếm và hiểu rõ trước tiên. Càng tìm cách được Đức Chúa Trời hoàn thiện trong mọi việc bao nhiêu, ngươi sẽ càng được thấy bàn tay của Đức Chúa Trời trong mọi việc bấy nhiêu, từ đó, ngươi sẽ chủ động tìm cách đi vào sự hiện hữu của lời răn của Đức Chúa Trời và thực tế trong lời răn ấy qua những quan điểm khác nhau và trong các vấn đề khác nhau. Ngươi không thể bằng lòng với những trạng thái tiêu cực đơn thuần như không phạm tội, không có quan niệm, không có triết lý sống và không có ý chí làm người. Chúa hoàn thiện con người theo nhiều cách khác nhau, và trong mọi vấn đề, kết cuộc có thể là ngươi sẽ được vẹn tròn. Ngươi không chỉ có thể được hoàn thiện trong những chuyện tích cực và còn trong cả những vấn đề tiêu cực, từ đó làm phong phú thêm những gì ngươi đạt được. Mỗi ngày, có những cơ hội để được hoàn thiện và những khoảng thời gian để về bên Đức Chúa Trời. Sau một giai đoạn trải nghiệm như thế, ngươi sẽ được thay đổi rất nhiều. Giờ đây, tự nhiên ngươi sẽ hiểu rõ hơn nhiều điều trước đây ngươi không hiểu; không cần ai khác chỉ dạy, mà bất giác, ngươi sẽ được Đức Chúa Trời soi sáng, được giác ngộ tất cả mọi điều và mọi trải nghiệm của ngươi đều đi vào chi tiết. Đức Chúa Trời sẽ dẫn dắt ngươi, sao cho ngươi không chệch hướng. Khi đó, ngươi sẽ đặt chân lên con đường hoàn thiện bởi Ngài.
Việc được Đức Chúa Trời hoàn thiện không thể chỉ giới hạn trong sự hoàn hảo thông qua việc ăn và uống lời răn của Đức Chúa Trời. Cách trải nghiệm này quá phiến diện và không bao quát; nó chỉ giới hạn con người trong một phạm vi rất nhỏ. Trong trường hợp này, con người thiếu thốn sự nuôi dưỡng tinh thần vốn cực kỳ cần thiết. Nếu muốn được hoàn thiện bởi Đức Chúa Trời, các ngươi phải học cách trải nghiệm tất cả mọi điều và được giác ngộ trong tất cả những vấn đề mình cần đối mặt. Bất cứ khi nào phải đối mặt với điều gì, dù tốt hay xấu, ngươi đều nên tìm ra điều đáng học tập và sự việc đó không nên khiến ngươi trở nên thụ động. Dù sao đi nữa, ngươi vẫn nên xem xét nó từ góc nhìn bên phía Đức Chúa Trời, không phân tích hoặc nghiên cứu nó từ quan điểm của con người (đây chính là sự thiên lệch trong trải nghiệm). Nếu đây là cách trải nghiệm của ngươi, thì trái tim của ngươi sẽ bị gánh nặng cuộc sống chiếm giữ; hãy luôn sống dưới ánh sáng của Chúa và đừng bao giờ dễ dàng đi chệch hướng trong thực tiễn. Những người làm được điều đó sở hữu triển vọng lớn lao. Có rất nhiều cơ hội để được hoàn thiện bởi Đức Chúa Trời. Tất cả đều phụ thuộc vào việc các ngươi có phải là những người thực sự yêu Đức Chúa Trời và liệu các ngươi có quyết tâm để được Đức Chúa Trời hoàn thiện và thu phục và nhận được phước lành cũng như di sản của Ngài hay không. Chỉ có quyết tâm thôi chưa đủ. Các ngươi phải có thật nhiều tri thức, nếu không, các ngươi sẽ luôn đi chệch hướng trong thực tiễn. Đức Chúa Trời sẵn sàng hoàn thiện từng người trong số các ngươi. Xét từ góc độ hiện nay, dù đa số đã chấp nhận công việc của Đức Chúa Trời trong thời gian dài, nhưng họ lại giới hạn bản thân trong việc thuần túy hưởng thụ ân điển của Đức Chúa Trời và chỉ sẵn sàng tiếp nhận an ủi thân xác từ Ngài. Họ không sẵn lòng tiếp nhận những chỉ dẫn ngày càng cao hơn, nhiều hơn, điều đó cho thấy trái tim con người vẫn luôn phiêu dạt bên ngoài. Dù công việc, sự phụng sự của con người và trái tim yêu mến Đức Chúa Trời của họ có ít tạp chất hơn, nhưng xét về bản chất bên trong, xét từ suy nghĩ chưa được khai sáng của họ, thì con người vẫn không ngừng tìm kiếm sự bình an và hưởng thụ thân xác, không quan tâm đế những điều kiện và mục đích của việc Đức Chúa Trời hoàn thiện con người. Vì vậy, cuộc sống của hầu hết những người đó vẫn còn dung tục và suy đồi, không hề thay đổi. Đơn giản là họ không coi niềm tin vào Đức Chúa Trời như một vấn đề quan trọng. Thay vào đó, dường như họ chỉ tin để cho người khác xem, họ hành động không nghiêm túc hay cống hiến, được chăng hay chớ, dấn thân vào tồn tại không mục đích. Rất ít người tìm cách nhập lời răn của Đức Chúa Trời vào mọi việc, đạt được nhiều kết quả phong phú hơn, trở thành những người giàu có hơn trong ngôi nhà của Đức Chúa Trời ngày nay và nhận thêm nhiều phước lành của Đức Chúa Trời. Nếu ngươi truy cầu được Đức Chúa Trời hoàn thiện trong mọi việc và thừa hưởng những lời hứa của Đức Chúa Trời trên trần gian; nếu ngươi tìm cách được Đức Chúa Trời soi sáng trong mọi việc và không để năm tháng trôi qua vô ích, thì đây là con đường lý tưởng tích cực để chủ động bước tới. Chỉ bằng cách này, ngươi mới xứng đáng và đủ điều kiện để được Đức Chúa Trời hoàn thiện. Ngươi có thực sự kiếm tìm sự hoàn thiện của Đức Chúa Trời không? Ngươi có thực sự tha thiết với mọi việc không? Ngươi có tinh thần yêu mến Đức Chúa Trời như Phi-e-rơ không? Ngươi có ý muốn yêu Đức Chúa Trời như Chúa Giê-su đã làm không? Ngươi tin vào Chúa Giê-su bao năm qua; vậy ngươi có thấy Chúa Giê-su yêu Đức Chúa Trời như thế nào không? Đó có thực sự là Chúa Giê-su mà ngươi tin không? Ngươi tin vào Đức Chúa Trời thực tế ngày nay; vậy ngươi đã thấy Đức Chúa Trời thực tế trong thân xác phàm yêu Đức Chúa Trời ở Thiên Đàng như thế nào chưa? Ngươi tin vào Đức Chúa Giê-su Christ; đó là bởi khổ hình đóng đinh của Chúa Giê-su để cứu chuộc nhân loại và những phép lạ mà Ngài thực hiện là những lẽ thật được thừa nhận rộng rãi. Tuy nhiên, đức tin của con người không đến từ kiến thức và sự hiểu biết thực sự về Chúa Giê-su Christ. Ngươi chỉ tin vào tên của Chúa Giê-su nhưng không tin vào Thánh Linh của Ngài, bởi ngươi không cho thấy Chúa Giê-su yêu Đức Chúa Trời như thế nào. Niềm tin của ngươi vào Đức Chúa Trời vẫn còn quá non nớt. Dù ngươi đã tin Chúa Giê-su trong nhiều năm, nhưng ngươi không biết yêu Đức Chúa Trời. Chẳng phải điều đó biến ngươi trở thành kẻ ngốc nghếch nhất trên đời ư? Điều đó cho thấy rằng nhiều năm qua, ngươi đã uổng công thưởng thức "bữa cơm của Chúa Giê-su Christ". Không chỉ mình Ta không thích những người như vậy, mà Ta tin rằng Chúa Giê-su Christ mà ngươi tôn thờ cũng không. Làm sao những người như vậy có thể được hoàn thiện? Ngươi có đỏ mặt không? Ngươi có cảm thấy hổ thẹn không? Ngươi còn mặt mũi nào đối diện với Chúa Giê-su Christ của mình? Những lời Ta nói, các ngươi đã hiểu chưa?

Thứ Ba, 5 tháng 11, 2019

Tất cả những ai không biết Đức Chúa Trời đều là những người chống đối Đức Chúa Trời

Nắm bắt được mục đích của công việc của Đức Chúa Trời, hiệu quả công việc của Ngài đạt được nơi con người, và ý muốn của Ngài đối với con người chính xác là gì: đây là điều mọi người theo Đức Chúa Trời nên đạt được. Ngày nay sự hiểu biết về công việc của Đức Chúa Trời chính là điều mà tất cả mọi người đang thiếu. Những việc Đức Chúa Trời đã làm trên con người, toàn bộ công việc của Đức Chúa Trời, và ý muốn của Ngài dành cho con người chính xác là gì, từ khi sáng thế đến thời điểm hiện tại - đây là những điều mà con người không biết mà cũng không lĩnh hội được. Sự thiếu hụt này không những được nhìn thấy trên khắp giới tôn giáo, mà còn ở tất cả những ai tin vào Đức Chúa Trời. Khi đến ngày ngươi thực sự trông thấy Đức Chúa Trời, khi ngươi thực sự cảm kích sự khôn ngoan của Ngài, khi ngươi trông thấy tất cả những việc Đức Chúa Trời đã làm, khi ngươi nhận ra Đức Chúa Trời là gì - khi ngươi đã nhìn thấy sự rộng lượng, sự khôn ngoan, sự kỳ diệu của Ngài và tất cả những gì Ngài đã làm trên con người - thì lúc đó ngươi sẽ đạt được thành công trong đức tin của mình nơi Đức Chúa Trời. Khi Đức Chúa Trời được cho là toàn diện và rộng lượng, trong phương diện nào Ngài đúng là toàn diện, và trong phương diện nào Ngài rộng lượng? Nếu ngươi không hiểu được điều này, thì ngươi không thể được xem là tin vào Đức Chúa Trời. Tại sao Ta phán rằng những người trong giới tôn giáo không phải là những người tin vào Đức Chúa Trời mà là những kẻ làm ác, cùng loại với ma quỷ? Khi Ta phán họ là những kẻ làm ác, chính là vì họ không hiểu được ý muốn của Đức Chúa Trời và không thể nhìn thấy sự khôn ngoan của Ngài. Đức Chúa Trời chưa bao giờ tiết lộ công việc của Ngài cho họ. Họ đui mù; họ không thể thấy những việc làm của Đức Chúa Trời, họ đã bị Đức Chúa Trời từ bỏ, và họ hoàn toàn thiếu sự chăm sóc và bảo vệ của Đức Chúa Trời, chứ đừng kể gì đến công việc của Đức Thánh Linh. Những ai không có công việc của Đức Chúa Trời là những kẻ làm ác và là những địch thủ của Đức Chúa Trời. Sự chống đối Đức Chúa Trời mà Ta phán đề cập đến những người không biết Đức Chúa Trời, những người thừa nhận Đức Chúa Trời với môi miếng của họ nhưng lại không biết Ngài, những người đi theo Đức Chúa Trời nhưng không vâng lời Ngài, và những người say sưa trong ân điển của Đức Chúa Trời nhưng không thể đứng ra làm chứng về Ngài. Không có sự hiểu biết về mục đích của công việc của Đức Chúa Trời hoặc sự hiểu biết về công việc Đức Chúa Trời thực hiện nơi con người, thì con người không thể phù hợp với ý muốn của Đức Chúa Trời, và cũng không thể đứng ra làm chứng về Đức Chúa Trời. Lý do con người chống đối Đức Chúa Trời, một mặt, đến từ tâm tính bại hoại của con người, và mặt khác, từ sự không biết Đức Chúa Trời và sự thiếu hiểu biết về những nguyên tắc làm việc của Đức Chúa Trời và ý muốn của Ngài cho con người. Hai khía cạnh này, được kết hợp với nhau, tạo thành một lịch sử của sự chống đối Đức Chúa Trời của con người. Những tân tín hữu chống đối Đức Chúa Trời bởi vì sự chống đối như thế nằm trong bản chất của họ, trong khi sự chống đối Đức Chúa Trời của những tín hữu lâu năm là kết quả của sự không biết đến Ngài của họ, cộng thêm tâm tính bại hoại của họ. Trong thời gian trước khi Đức Chúa Trời đã trở nên xác thịt, thước đo xem con người có chống đối Đức Chúa Trời hay không được dựa trên việc họ có tuân thủ các sắc lệnh do Chúa trên trời đã đặt ra hay không. Ví dụ, trong Thời đại Luật pháp, bất kỳ ai không tuân thủ luật pháp của Đức Giê-hô-va đều bị xem là kẻ chống đối Đức Chúa Trời; bất kỳ ai ăn cắp các lễ vật dâng cho Đức Giê-hô-va, hoặc bất kỳ ai chống lại những người được ơn bởi Đức Giê-hô-va, đều bị xem là kẻ chống đối Đức Chúa Trời và sẽ bị ném đá đến chết; bất kỳ ai đã không hiếu kính cha mẹ mình, và bất kỳ ai đã đánh đập hay rủa sả người khác, đều bị xem là người không tuân thủ luật pháp. Và tất cả những ai đã không tuân thủ luật pháp của Đức Giê-hô-va đều bị xem là chống lại Ngài. Điều này đã không còn như thế trong Thời đại Ân điển, khi bất kỳ ai chống lại Jêsus đều bị xem là kẻ chống lại Đức Chúa Trời, và bất kỳ ai không vâng theo những lời đã được phán bởi Jêsus đều bị xem là kẻ chống lại Đức Chúa Trời. Vào thời điểm này, cách định nghĩa về sự chống đối Đức Chúa Trời đã trở nên vừa chính xác vừa thực tế hơn. Vào thời điểm khi Đức Chúa Trời chưa trở nên xác thịt, thước đo xem con người có chống đối Đức Chúa Trời hay không đã được dựa trên việc con người có thờ phượng Đức Chúa Trời và có tôn kính Đức Chúa Trời vô hình trên thiên đàng hay không. Cách thức chống đối Đức Chúa Trời được định nghĩa khi đó đã không hoàn toàn thực tế, vì con người đã không thể nhìn thấy Đức Chúa Trời, mà cũng không biết ảnh tượng của Đức Chúa Trời như thế nào, hoặc Ngài đã làm việc và phán như thế nào. Con người đã không có ý niệm gì về Đức Chúa Trời, và họ đã tin vào Đức Chúa Trời một cách mơ hồ, bởi vì Đức Chúa Trời chưa hiện ra với con người. Vì thế, dù con người đã tin vào Đức Chúa Trời trong sự tưởng tượng của họ thế nào đi nữa, Đức Chúa Trời đã không kết án con người hoặc đưa ra quá nhiều yêu cầu cho họ, bởi vì con người đã hoàn toàn không thể nhìn thấy Đức Chúa Trời. Khi Đức Chúa Trời trở nên xác thịt và đến làm việc giữa con người, tất cả mọi người trông thấy Ngài và nghe thấy những lời của Ngài, và tất cả mọi người nhìn thấy những việc mà Đức Chúa Trời làm trong thân thể xác thịt của Ngài. Vào lúc đó, tất cả những ý niệm của con người đều tan biến. Với những ai đã nhìn thấy Đức Chúa Trời xuất hiện trong xác thịt, họ sẽ không bị kết án nếu họ sẵn sàng vâng lời Ngài, trong khi những ai cố tình chống lại Ngài sẽ bị xem là địch thủ của Đức Chúa Trời. Những con người như thế là những kẻ địch lại Đấng Christ, những kẻ thù cố ý chống lại Đức Chúa Trời. Những ai nuôi dưỡng những ý niệm liên quan đến Đức Chúa Trời nhưng vẫn sẵn sàng và sẵn lòng vâng lời Ngài sẽ không bị kết án. Đức Chúa Trời kết án con người dựa trên những ý định và hành động của con người, không bao giờ vì những suy nghĩ và ý kiến của họ. Nếu Ngài kết án con người dựa trên những suy nghĩ và ý kiến của họ, thì không một ai sẽ có thể thoát khỏi bàn tay thịnh nộ của Đức Chúa Trời. Những ai cố ý chống lại Đức Chúa Trời nhập thể sẽ bị hành phạt vì sự bất tuân của họ. Đối với những kẻ cố ý chống lại Đức Chúa Trời, sự chống đối của họ bắt nguồn từ thực tế rằng họ nuôi dưỡng những ý niệm về Đức Chúa Trời, điều này lần lượt dẫn họ vào những hành động làm gián đoạn công việc của Đức Chúa Trời. Những người này cố ý chống lại và phá hủy công việc của Đức Chúa Trời. Họ không chỉ đơn thuần có những ý niệm về Đức Chúa Trời, mà họ còn tham gia vào những hoạt động làm gián đoạn công việc của Ngài, và vì lý do này mà những người kiểu này sẽ bị kết án. Những ai không cố ý làm gián đoạn công việc của Đức Chúa Trời sẽ không bị kết án như những tội nhân, bởi vì họ có thể sẵn sàng vâng lời và không tham gia vào những hoạt động gây ra sự gián đoạn và xáo trộn. Những người như thế sẽ không bị kết án. Tuy nhiên, khi con người đã trải nghiệm công việc của Đức Chúa Trời trong nhiều năm, nếu họ tiếp tục nuôi dưỡng những ý niệm về Đức Chúa Trời và vẫn không thể biết về công việc của Đức Chúa Trời nhập thể, và nếu, cho dù họ đã trải nghiệm công việc của Ngài bao nhiêu năm đi nữa, họ tiếp tục chứa đầy những ý niệm về Đức Chúa Trời và vẫn không thể biết đến Ngài, thì ngay cả khi họ không tham gia vào những hoạt động gây rối nào, tuy nhiên lòng họ vẫn chứa đầy nhiều ý niệm về Đức Chúa Trời, và ngay cả khi những ý niệm này không trở nên rõ ràng, thì những con người như thế này không giúp gì được cho công việc của Đức Chúa Trời. Họ không thể rao truyền Phúc Âm về Đức Chúa Trời hoặc đứng ra làm chứng về Ngài. Những người như thế là những kẻvô tích sự và là những kẻ khờ dại. Bởi vì họ không biết Đức Chúa Trời và hơn nữa hoàn toàn không có khả năng vứt bỏ những ý niệm của họ về Ngài, vì thế họ bị kết án. Có thể nói thế này: Các tân tín hữu nắm giữ những ý niệm về Đức Chúa Trời hoặc không biết gì về Ngài là điều bình thường, nhưng đối với người đã tin Chúa nhiều năm và đã trải nghiệm nhiều về công việc của Ngài, thì việc một người như thế tiếp tục nắm giữ những ý niệm sẽ là điều không bình thường, và sẽ càng bất thường khi một người như thế lại không có sự hiểu biết về Đức Chúa Trời. Chính vì đây là một trạng thái không bình thường nên họ bị kết án. Những kẻ bất thường này đều là rác rưởi; họ là những kẻ chống đối Đức Chúa Trời nhất và là những người đã vui hưởng ân điển của Đức Chúa Trời một cách vô ích. Cuối cùng tất cả những người như thế sẽ bị loại bỏ.